Sức khỏe người cao tuổi

Bệnh khớp nên sử dụng thuốc gì điều trị?

Bệnh khớp thường gặp ở các bệnh nhân lớn tuổi làm ảnh hưởng đến vận động và cuộc sống hàng ngày. Việc sử dụng các loại thuốc đặc hiệu sẽ giúp điều trị hiệu quả của bệnh khớp bằng các cơ chế ức chế các quá trình gây viêm khớp.
Thuốc chống sốt rét tổng hợp nhóm quinolon

Loading...

Thuốc có thể có tác dụng ức chế giải phóng men lysozym (tiêu thể) bằng cách làm bền vững màng của lysosom, do đó làm giảm phản ứng viêm trong các bệnh khớp, thuốc chỉ có tác dụng khi dùng kéo dài nhiều tháng nên hay được dùng để điều trị duy trì, củng cố. Chỉ định trong bệnh lupus ban đỏ rải rác, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp mạn tính thiếu niên thể đa khớp, các thể khác của bệnh tạo keo như xơ cứng bì, viêm da và cơ…

Nhóm thuốc quinolon có thể gây tác dụng phụ: rối loạn tiêu hóa, rối loạn tiền đình xuất hiện trong 3 tháng đầu; đục giác mạc, tổn thương võng mạc, sạm da, nhược cơ, rối loạn điều tiết mắt xuất hiện muộn hơn (sau 1 năm). Dùng kéo dài trên 2 năm có thể gây tổn thương võng mạc nặng không hồi phục. Cần chú ý khám mắt định kỳ nếu dùng thuốc quá 6 tháng.

Bệnh khớp nên sử dụng thuốc gì điều trị?

Các khớp thường bị thoái hóa.

Muối vàng

Cơ chế tác dụng có thể do ức chế men tiêu thể và khả năng hoạt động của đại thực bào, hiện nay được dùng để điều trị viêm khớp dạng thấp thể nặng không đáp ứng với các thuốc khác. Là loại thuốc điều trị cơ bản bệnh, có nhiều tai biến nên chỉ có khoảng 30% số bệnh nhân chịu đựng được thuốc.

Tác dụng không mong muốn có thể gặp là: dị ứng ngoài da, sốt cao, viêm niêm mạc tiêu hóa, viêm thận, giảm bạch cầu, tiểu cầu, thiếu máu. Cần theo dõi chặt chẽ khi dùng thuốc để kịp thời dừng điều trị.

D-Penicillamin hay dimethylcystein (Trolovol Kupren)

Cơ chế tác dụng có thể là do phá hủy phức hợp miễn dịch, yếu tố dạng thấp. Được dùng để chữa viêm khớp dạng thấp thể nặng, thể ngoan cố.

Tác dụng phụ: rối loạn tiêu hóa, dị ứng da, viêm thận, giảm bạch cầu, tiểu cầu… cần theo dõi chặt chẽ khi dùng thuốc.

Thuốc ức chế miễn dịch

Dựa vào cơ chế bệnh sinh của viêm khớp dạng thấp và các bệnh tạo keo là các bệnh tự miễn dịch, người ta sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch để điều trị trường hợp nặng và không đáp ứng với các thuốc khác.

Methotrexat liều nhỏ: Do thuốc có cấu trúc tương tự acid folic nên nó tranh chấp với acid này tại vị trí hoạt động của nó trong quá trình tổng hợp pyrimidin dẫn đến giảm tổng hợp DNA. Ngoài ra, methotrexat có thể có tác dụng kháng viêm và ức chế miễn dịch. Sau 3 tháng nếu thuốc không có tác dụng thì ngừng. Thuốc gây tác dụng phụ: giảm bạch cầu, độc gan thận, tổn thương mô phổi.

Sulfasalazine: Là sự kết hợp của 5-aminosalisylic và sulfapyridin, có tác dụng ức chế hoạt hóa tế bào lympho B và ức chế hoạt hóa các tế bào tiêu diệt tự nhiên và yếu tố dạng thấp.

Leflunomide: Thuốc ức chế tổng hợp pyrimidin của con đường chuyển hóa novo. Dùng thuốc đơn độc hoặc kết hợp với methotrexat.

Cyclophosphamide: Thuộc nhóm ankylan, có tác dụng liên kết với acid nhân và protein bởi các mối gắn với phân tử lớn trong tế bào, thuốc còn ức chế phản ứng miễn dịch thứ phát. Chỉ định trong bệnh luput có tổn thương thận. Thường dùng với corticoid.

Cyclosporin A: Thuốc ức chế các pha ban đầu của sự hoạt hóa tế bào T, do đó ngăn chặn sớm sự ức chế các gen. Chỉ định trong các bệnh tự miễn, các thể viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vẩy nến kháng thuốc. Dùng đơn độc hoặc kết hợp với methotrexat.

Azathioprin: ức chế tổng hợp purin, chỉ định trong bệnh luput, viêm mạch, viêm khớp dạng thấp.

Các thuốc trên thường dùng với liều trung bình và kéo dài từ 1-3 tháng. Chú ý nhóm thuốc này có nhiều tác dụng phụ nhất là các tai biến về máu, nên khi dùng phải theo dõi chặt chẽ.

Thuốc ức chế TNF

Yếu tố hoại tử khối u alpha (Tumor Necrosis Factor-alpha – TNF-alpha) là một protein do cơ thể sản sinh ra trong phản ứng viêm, trong phản ứng của cơ thể với chấn thương. TNF thúc đẩy quá trình viêm, sốt và các dấu hiệu có liên quan (đau, nhạy cảm đau và sưng) trong một số bệnh cảnh viêm gồm cả viêm khớp dạng thấp. Do đó, các thuốc ức chế TNF-alpha sẽ có tác dụng chống viêm, giảm đau, giảm sưng tại các tổ chức viêm và có thể làm chậm sự tiến triển của viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp và viêm khớp vẩy nến, đặc biệt là khi dùng kết hợp với methotrexate. Hiện tại có 3 chất ức chế TNF-alpha đã được dùng bao gồm etanercept, infliximab và adalimumab.

Thuốc ức chế Interleukin

Actemra: Ở bệnh nhân viêm khớp có sự tăng chất IL-6 (interleukin-6), một chất hóa học truyền tin tham gia vào phản ứng miễn dịch phá hủy ở trung tâm của viêm khớp. Actemra được dùng bằng dạng dịch truyền tĩnh mạch, là thuốc ức chế IL-6 đầu tiên dùng cho viêm khớp. Actemra được chỉ định cho bệnh nhân viêm khớp dạng thấp mức độ vừa và nặng không đáp ứng với một hoặc nhiều chất ức chế TNF. Actemra không dùng kết hợp với các thuốc ức chế TNF (cimzia, enbrel, humira, remicade và simponi) hoặc phương pháp trị liệu sinh học khác cho điều trị viêm khớp. Tuy nhiên, nó có thể được dùng kết hợp với các thuốc DMARD khác như methotrexate.

Diacerein:

Cơ chế tác dụng: ức chế sự sản xuất và hoạt động của chất cytokine IL-1α tiền viêm và tiền dị hóa cả ở lớp nông và lớp sâu của sụn, màng hoạt dịch và các thành phần của chất căn bản ngoài tế bào như proteoglycan, aggrecan, acid hyaluronic và chất tạo keo typ II.

Diacerein có thể uống kéo dài. Thuốc làm cho nước tiểu có màu đỏ nhưng không nguy hiểm chỉ cần biết và giải thích cho bệnh nhân yên tâm.

BS. Mai Trung Dũng

Theo Báo Sức Khỏe & Đời sống

 Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID):

Đây là nhóm thuốc đầu tay rất hay được sử dụng với khá nhiều tên thuốc. Điển hình là aspirin, diclofenac, ibuprofen, indometacin, ketoprofen, naproxen… Các thuốc này được sử dụng để giảm sưng và đau ở các khớp bị viêm. Đây là các thuốc có tác dụng tốt nhưng cũng có rất nhiều tác dụng phụ (ADR) như gây ù tai, kích ứng dạ dày và gây loét.

Vì vậy, cần tuân theo hướng dẫn về cách dùng đối với từng thuốc cụ thể và không sử dụng cho những người bị nguy cơ cao như thường xuyên bị rối loạn tiêu hóa, đã bị loét hoặc viêm dạ dày – tá tràng, những người bị hen suyễn, bị bệnh thận…

Các thuốc giảm đau, hạ sốt, không gây nghiện cũng hay được dùng, điển hình là paracetamol (còn có tên khác là acetaminophen) chỉ có tác dụng giảm đau chứ không kháng viêm, hay nimesulide dùng trong đau, viêm và cứng khớp.

Các thuốc ức chế chọn lọc COX-2:

Điển hình trong nhóm này là celecoxib, etoricoxib, parecoxib… thường dùng trong các bệnh rối loạn cơ xương khớp. Thường dùng khi các NSAID nói trên có nguy cơ cao gây viêm loét đường tiêu hóa ở các bệnh nhân đã lạm dụng hoặc dùng rất nhiều lần các NSAID mà bệnh không đỡ. Các bệnh nhân viêm khớp mà lại có nguy cơ tim mạch cũng được ưu tiên chọn nhóm này.

Phối hợp các NSAID và thuốc giảm đau:

Hay dùng là paracetamol và ibuprofen để có tác dụng hiệp đồng giúp giảm đau nhanh hơn trong bệnh viêm khớp.

Các thuốc tác động lên hệ cơ xương:

Hay dùng là glucosamin và chondroitin. Thuốc thường được dùng trong điều trị viêm khớp gối. Các chất này có trong một số loại hải sản nên những người dị ứng với hải sản không nên dùng.

Các thuốc ức chế miễn dịch dùng trong viêm khớp:

Hay dùng là các abatacept, leflunomide, tocilizumab, rituximab phối hợp với methotrexate để làm giảm đau khớp, làm chậm tiến triển của bệnh, làm chậm phá hủy khớp nên phải dùng từ giai đoạn đầu của viêm khớp dạng thấp.

Các thuốc giảm đau gây nghiện:

Chỉ sử dụng trong những trường hợp cần thiết như codein, tramadol, fentanyl, morphin…

Chỉ sử dụng thuốc giảm đau gây nghiện trong trường hợp cần thiết

Các salicylate dùng tại chỗ:

Thường kết hợp với menthol, eucaliptol, camphor dưới dạng kem xoa bóp tại chỗ trong trường hợp viêm đau sưng nhẹ.

Các corticosteroid và thuốc điều trị gút

Hay dùng là betamethasone, dexamethasone, hydrocortisone, mazipredone, metylprednisolon, prednisolon, prednisone, triamcinolone chỉ dùng ngắn hạn theo từng đợt trong các đợt viêm cấp nhiều khớp.

Gút là một loại viêm khớp gây đau đớn nhiều cho bệnh nhân. Khi bị gút cấp, thuốc thường dùng là colchicine.

Lưu ý khi dùng thuốc trị viêm khớp

Tóm lại, việc dùng các thuốc nói trên cần tuân theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Người bệnh không tự ý dùng, không dùng quá liều được cho. Tất cả các thuốc dùng trong viêm khớp đều có rất nhiều phản ứng không mong muốn. Vì vậy nếu không tuân thủ nguyên tắc điều trị người bệnh sẽ có nguy cơ mắc các bệnh khác, thậm chí còn nguy hiểm hơn tình trạng viêm đau khớp như bệnh viêm loét hoặc thủng dạ dày – tá tràng, bệnh rối loạn chuyển hóa do lạm dụng corticosteroid…

Người bị viêm khớp nên chú ý đến tập luyện các bài tập vận động từ nhẹ đến mức cơ thể chịu đựng được để duy trì sự linh hoạt của các khớp. Có thể áp dụng vật lý liệu pháp bằng chườm nóng hoặc chườm lạnh. Cần có chế độ ăn cân bằng để tránh bị tăng acid uric. Nên uống nhiều nước để đào thải các chất độc ra khỏi cơ thể. Bệnh nhân tăng huyết áp bị viêm khớp cần thận trọng khi dùng các NSAID.

loading...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Open