Bệnh thường gặp

Cải thiện tình trạng cao huyết áp ở người cao tuổi

Cách hữu hiệu nhất để người cao tuổi đối phó với bệnh cao huyết áp ở người già là thay đổi lối sống: giảm ăn muối, kiêng rượu, thuốc lá và chất kích thích, vận động vừa phải… Ngoài ra, bệnh nhân có thể sử dụng một số bài thuốc cổ truyền để hạ áp.

Loading...

– Cao huyết áp là một bệnh mãn tính, biểu hiện chính là tăng áp lực động mạch, có thể gây ra biến chứng ở nhiều cơ quan như tim mạch, não, thận và mắt. Có hai loại cao huyết áp. Loại nguyên phát chiếm khoảng 90%, gặp hầu hết ở lứa tuổi trung niên và tuổi già do những thay đổi cơ chế gây co hoặc giãn mạch. Cao huyết áp thứ phát thường gặp ở người trẻ và trẻ em do các bệnh ở thận, nội tiết… Ớ người cao tuổi, hẹp tắc động mạch thận là nguyên nhân chủ yếu gây cao huyết áp thứ phát.

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh bao gồm:
+ Tuổi tác: ơ lứa tuổi 60 trở lên, tỷ lệ cao huyết áp là 1/3.

+ Yếu tố xã hội: Tỷ lệ mắc bệnh ở thành thị cao hơn nông thôn do nhịp sống căng thẳng, khẩn trương.

+ Béo phì: Trọng lượng cơ thể vượt quá mức cho phép (chỉ số BM1 ở nam hơn 25, nữ hơn 30).

+ Nghiện rượu và thuốc lá.

+ Ăn mặn: Lượng muối quá 5g/ngày.
+ Rối loạn lipid máu và tiểu đường.

– Để điều trị, người bệnh cần có chế độ giảm cân ăn ít muối, bỏ thuốc lá, hạn chế rượu và các chất kích thích; năng vận động thể lực như đi bộ, bơi, tập dưỡng sinh, thái cực quyền… Nên sử dụng nước uống có tác dụng hạ huyết áp, an thần, lợi tiểu như hoa hòe, chè sen vông, chè thanh nhiệt, nước ngô luộc… Chế độ sinh hoạt, làm việc và nghỉ ngơi phải hợp lý đảm bảo giấc ngủ đầy đủ. Hạn chế dùng thuốc ngủ khi không cần thiết.

Ngoài ra, người bị cao huyết áp cũng có thể điều trị theo một số bài thuốc y học cổ truyền sau:

Bài 1 – Thiên ma, câu đằng, đỗ họng, tang ký sinh, bạch thược, chi tử, ngưu tất mỗi thứ 12g, hoàng cầm 8g, thạch quyết minh, mẫu lệ mỗi thứ 20g. Ngày một thang, sắc uống làm 3 lần. Dùng cho người cao huyết áp thể can dương thịnh (đau đầu, chóng mặt, mặt dỏ, bứt rứt, ngủ ít, hay mê, miệng đắng, tiểu vàng, đại tiện táo).

Bài 2 – Thục địa, hạ khô thảo mỗi thứ 16g; hoài sơn, sơn thù, bạch linh, đan bì, trạch tả, kỷ tử, bạch mao căn, cúc hoa mỗi thứ 12g, thạch quyết minh 20g, câu dằng 10g. Ngày một thang, sắc uống làm 3 lần. Dùng cho người cao huyết áp thể can thận âm hư (hoa mắt, chóng mặt, ù tai, đau dầu, tức ngực, tay chân tê dại, ngủ kém).

Bài 3 – Bán hạ chế, thiên ma, trần bì, thạch xương bồ mỗi thứ 8g; bạch linh, bạch truật, câu đằng mỗi thứ 12g, cam thảo 4g. Ngày một thang, sắc uống làm 3 lần. Dùng cho người cao huyết áp kèm béo phì hoặc cholesterol máu cao.

Tìm hiểu về bệnh cao huyết áp ở người già

1. Tại sao phải quan tâm đến bệnh cao huyết áp của cha mẹ?

Một thống kê cho biết, tuổi thọ của cha mẹ có thể giảm 15 năm nếu mắc bệnh huyết áp cao trước tuổi 40. Huyết áp cao được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng”.

Theo con số thống kê, có đến 22% tỉ lệ dân số bị cao huyết áp và phần lớn không biết vì bệnh thường không có triệu chứng.

Cao huyết áp chỉ được phát hiện khi đã gây những tai biến nghiêm trọng như hôn mê do tai biến mạch máu não, di chứng liệt nữa người, suy tim, thiếu máu cơ tim, suy thận…, có thể gây tử vong.

2. Cách hay giúp ổn định huyết áp – phòng ngừa biến chứng

Do những hậu quả nặng nề mà huyết áp cao gây ra, hãy chấp nhận một thực tế về điều trị cao huyết áp: điều trị cả đời để duy trì sự an toàn cho sức khỏe người già.

Với người có tuổi, cơ thể suy yếu, việc dùng các thuốc tân dược gây tác dụng phụ không phải là biện pháp có thể áp dụng lâu dài được. Cách hữu hiệu nhất với đối tượng này là nên thay đổi lối sống: giảm ăn muối, kiêng rượu, thuốc lá, chất kích thích, vận động nhẹ nhàng… và sử dụng một số bài thuốc cổ truyền điều hòa chức năng các tạng phủ để hạ áp.

Bởi, theo Đông Y, nguyên nhân sâu xa dẫn đến tăng huyết áp là các tạng can, thận, tâm, tỳ bị mất điều hòa. Đi từ gốc rễ ấy, các lương y đã kết hợp những vị thuốc như Huyền sâm, Câu đằng, Hạ khô thảo, Địa long, Dạ giao đằng, Táo nhân…tạo nên bài Giáng áp hợp tễ trong cuốn Thiên gia diệu phương nổi tiếng.

Bài thuốc trải qua bao đời và thực tế chứng minh tác dụng hạ huyết áp, ổn định huyết áp lâu dài, ngăn ngừa nguy cơ biến chứng nguy hiểm. Đến nay, bài thuốc vẫn là một sự lựa chọn an toàn hữu hiệu với bệnh nhân cao huyết áp.

Bệnh cao huyết áp ở người già và cách điều trị

Cao huyết áp là bệnh khá phổ biến trong cộng đồng và tăng theo độ tuổi. Một số thống kê cho biết, tuổi thọ của cha mẹ có thể giảm 15 năm nếu mắc bệnh cao huyết áp trước tuổi 40. Huyết áp cao được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng”.
Cải thiện tình trạng cao huyết áp ở người cao tuổi
Các yếu tố tăng khả năng mắc bệnh cao huyết áp: Có một số yếu tố ảnh hưởng, khiến người nọ có thể dễ mang bệnh cao áp huyết hơn người kia:

– Yếu tố gia đình: Cao áp huyết có tính di truyền. Có cha mẹ, anh em ruột cao áp huyết, đi khám bác sĩ,bạn nhớ cho bác sĩ biết điều này bạn nhé.
– Ðàn ông: Ðàn ông dễ cao áp huyết hơn phụ nữ.Tuy vậy,phụ nữ,sau khi mãn kinh, cũng dễ cao áp huyết hơn lúc còn kinh.
– Tuổi tác: Cao áp huyết dễ xảy ra sau tuổi 35.
– Giòng giống: Người da đen hay cao áp huyết hơn người da trắng và bệnh cao áp huyết ở người da đen cũng nặng hơn.
– Béo mập: Khi sức nặng của ta trên sức nặng lý tưởng so với chiều cao và vóc người 30% trở lên.
– Bệnh tiểu đường: Tiểu đường và cao áp huyết như đôi bạn thân,hay đi đôi với nhau, lại cùng nhau phá hoại tim và thận mạnh hơn.
– Rượu: Các khảo cứu cho thấy rượu uống nhiều và thường xuyên có thể đưa đến cao áp huyết,đồng thời cũng làm tăng tỷ lệ bị tai biến mạch máu não và bệnh thận.
– Ðời sống thiếu vận động: Ðời sống thiếu vận động dễ gây béo mập và béo mập,như đã biết,có thể

Lưu ý khi điều trị cao huyết áp:

– Nếu bị béo phì, nên áp dụng chế độ ăn giảm cân: Ít đường, ít mỡ, nhiều chất đạm và chất xơ rau quả, trái cây.
– Nên ăn nhạt, không ăn quá 1 muỗng cà phê muối mỗi ngày. Lượng muối này bao gồm cả lượng muối được nêm trong thức ăn và nước chấm.
– Nên ăn chất đạm có nguồn gốc từ cá và thực vật hơn là các loại thịt heo, bò, gà…
– Không nên ăn quá ngọt ngay cả khi không bị tiểu đường…
– Hạn chế ăn mỡ động vật và dầu dừa. Tốt nhất là dùng dầu ô liu, dầu hướng dương, dầu mè, dầu đậu nành.
– Nên ăn nhiều rau cải, trái cây để cung cấp nhiều chất khoáng, vitamin và chất xơ.
– Ngừng hoặc hạn chế uống nhiều rựơu.
– Bỏ hẳn hút thuốc lá.
– Giữ nếp sinh hoạt điều độ, ổn định. Tránh trạng thái căng thẳng, xúc động, lo âu.
– Rèn luyện thân thể thường xuyên: tập thể dục đều đặn ít nhất 45 phút mỗi ngày, 3 lần trong một tuần nhưng không nên gắng sức.

Điều trị cao huyết áp ở người cao tuổi

Để điều trị, người bệnh cần có chế độ ăn giảm cân nếu thừa cân, ăn ít muối, bỏ thuốc lá, hạn chế rượu và các chất kích thích; năng vận động thể lực như đi bộ, bơi, tập dưỡng sinh, thái cực quyền… Nên sử dụng nước uống có tác dụng hạ huyết áp, an thần, lợi tiểu như hoa hòe, chè sen vông, chè thanh nhiệt, nước ngô luộc… Chế độ sinh hoạt, làm việc và nghỉ ngơi phải hợp lý, đảm bảo giấc ngủ đầy đủ. Hạn chế dùng thuốc ngủ khi không cần thiết. Ngoài ra, người bị tăng huyết áp cũng có thể điều trị theo một số bài thuốc y học cổ truyền sau:

– Thiên ma, câu đằng, đỗ trọng, tang ký sinh, bạch thược, chi tử, ngưu tất mỗi thứ 12 g, hoàng cầm 8 g, thạch quyết minh, mẫu lệ mỗi thứ 20 g. Ngày một thang, sắc uống làm 3 lần. Dùng cho người tăng huyết áp thể can dương thịnh (đau đầu, chóng mặt, mặt đỏ, bứt rứt, ngủ ít, hay mê, miệng đắng, tiểu vàng, đại tiện táo).
– Thục địa, hạ khô thảo mỗi thứ 16 g; hoài sơn, sơn thù, bạch linh, đan bì, trạch tả, kỷ tử, bạch mao căn, cúc hoa mỗi thứ 12 g, thạch quyết minh 20 g, câu đằng 10 g. Ngày một thang, sắc uống làm 3 lần. Dùng cho người tăng huyết áp thể can thận âm hư (hoa mắt, chóng mặt, ù tai, đau đầu, tức ngực, tay chân tê dại, ngủ kém).
– Bán hạ chế, thiên ma, trần bì, thạch xương bồ mỗi thứ 8 g; bạch linh, bạch truật, câu đằng mỗi thứ 12 g, cam thảo 4 g. Ngày một thang, sắc uống làm 3 lần. Dùng cho người tăng huyết áp kèm béo phì hoặc cholesterol máu cao

Thông tin quan trọng về bệnh cao huyết áp ở người già

1. Hiệu quả của các thuốc điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi

Nhiều nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với placebo đã chứng minh rằng các thuốc điều trị tăng huyết áp giúp giảm các biến cố mới trên mạch vành, đột quỵ và STSH ở bệnh nhân cao tuổi. Tất cả các dữ liệu đều cho thấy khả năng giảm đột quỵ ở người cao tuổi có liên quan đến việc giảm huyết áp hơn là đến loại thuốc điều trị tăng huyết áp được sử dụng.

Thử nghiệm lâm sàng HYVET (Hypertension in the Very Elderly Trial) tiến hành trên 3845 bệnh nhân hơn 80 tuổi với huyết áp tâm thu liên tục trên 160 mmHg được kê đơn ngẫu nhiên indapamid 1,5 mg (dạng giải phóng kéo dài) hoặc placebo. Perindopril (2 hoặc 4 mg) hay placebo được kê thêm để đạt được mục tiêu điều trị 150/80 mmHg. Thuốc điều trị tăng huyết áp giúp giảm tử vong do đột quỵ 39% (p = 0,05), do các nguyên nhân tim mạch 23% (p = 0,06), do suy tim 64% (p < 0,01) và đặc biệt, giảm tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân 32% (p = 0,02). Hiệu quả điều trị thể hiện rõ rệt sau năm đầu tiên theo dõi.

2. Việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi

Theo hướng dẫn trong báo cáo thứ 7 của Ủy ban Quốc gia về Phát hiện, Ðánh giá và Ðiều trị tăng huyết áp (Joint National Committtee on Detection, Evaluation and Treatment of Hypertension – JNC 7), mục đích của việc điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi là giảm huyết áp xuống dưới 140/90 mmHg và dưới 130/80 mmHg đối với người cao tuổi bị tiểu đường hoặc suy thận mạn.

Hầu hết người cao tuổi bị tăng huyết áp được điều trị với ít nhất 2 thuốc để ổn định huyết áp. Cần phải đo huyết áp ở cả hai cánh tay và dùng bên tay có huyết áp cao hơn trong quá trình theo dõi điều trị. Ngoài ra, cần đo huyết áp ở người cao tuổi khi đứng thẳng cũng như ở tư thế ngồi. Cần lặp lại việc đo huyết áp để theo dõi sự biến đổi của huyết áp theo độ tuổi.

Cũng theo JNC 7, lợi tiểu là loại thuốc điều trị ưu tiên cho người cao tuổi bị tăng huyết áp không mắc kèm các bệnh khác bởi các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng đã chứng minh các thuốc này giúp làm giảm các biến cố tim mạch và nguy cơ tử vong. Tuy nhiên, người cao tuổi khi bị tăng huyết áp lại có khả năng cao mắc các bệnh liên quan. Do đó, việc lựa chọn thuốc điều trị tăng huyết áp ở những bệnh nhân này cần dựa trên tình trạng bệnh lý. Nếu huyết áp cao hơn mức mục tiêu từ 20/10 mmHg trở lên, cần dùng ít nhất hai loại thuốc điều trị tăng huyết áp và một trong hai thuốc đó nên là thuốc lợi tiểu thiazid.

Nên sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp ban đầu ở mức liều tối thiểu và tăng dần lên mức liều tối đa. Nếu thuốc điều trị tăng huyết áp đầu tiên không đáp ứng đủ sau khi đã dùng tới liều cao nhất thì cần sử dụng thêm thuốc thứ hai khác nhóm. Nếu bệnh nhân không có đáp ứng hoặc gặp phải phản ứng có hại nghiêm trọng, nên thay thế bằng một loại thuốc khác. Nếu không phải là thuốc ưu tiên hàng đầu, thuốc lợi tiểu nên là lựa chọn thứ hai. Thuốc lợi tiểu chỉ thể hiện tác dụng hoàn toàn từ sau khoảng
6 tuần điều trị. Nếu hiệu quả điều trị tăng huyết áp không tiến triển sau khi đã dùng tới liều tối đa cả hai loại thuốc, nên chỉ định thêm một thuốc thứ ba nhóm khác.

Trước khi sử dụng thêm thuốc điều trị tăng huyết áp mới, thầy thuốc nên cân nhắc những khả năng gây ra kém đáp ứng với thuốc, như không tuân thủ điều trị, kháng thuốc giả, quá tải tuần hoàn, đau không được kiểm soát, tương tác thuốc (dùng các thuốc chống viêm phi steroid (NSAID), cafein, thuốc chống trầm cảm, thuốc co mạch chống sung huyết/ ngạt mũi v.v..) và các yếu tố khác có liên quan như béo phì, hút thuốc, nghiện rượu và kháng insulin. Cần phát hiện và điều trị nguyên nhân gây tăng huyết áp thứ phát.

Ngã và ngất ở người cao tuổi thường do hạ huyết áp thế đứng hoặc hạ huyết áp sau ăn. Ðối tượng dễ bị nhất là bệnh nhân cao tuổi có sức khỏe yếu. Ðối với những bệnh nhân này, cần tiến hành đo huyết áp ở tư thế ngồi, đặc biệt là sau khi ăn. Có thể cần phải giảm liều của thuốc điều trị tăng huyết áp hoặc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp khác thay thế.

3. Tác dụng không mong muốn của các thuốc điều trị tăng huyết áp

Tất cả các thuốc điều trị tăng huyết áp, đặc biệt là thuốc lợi tiểu, ức chế men chuyển, ức chế thụ thể angiotensin (ARA), chẹn kênh calci và dẫn xuất nitrat đều có thể gây hạ huyết áp thế đứng triệu chứng, tụt huyết áp sau bữa ăn, ngã hoặc ngất ở người cao tuổi. Thuốc lợi tiểu có thể gây ra giảm thể tích tuần hoàn.

3.1 Thuốc lợi tiểu

Cần giám sát chặt chẽ điện giải đồ huyết thanh khi dùng thuốc lợi tiểu. Khi dùng thuốc lợi tiểu thiazid hay các thuốc lợi tiểu quai, có thể xảy ra hạ kali huyết và/hoặc hạ magnesi huyết gây loạn nhịp thất hoặc ngộ độc digitalis. Thận trọng khi sử dụng thuốc lợi tiểu ở bệnh nhân cao tuổi mắc STSH và có phân suất tống máu thất trái (LVEF) bình thường. Hạ natri cũng có thể xảy ra ở người cao tuổi khi điều trị bằng thuốc lợi tiểu, đặc biệt khi sử dụng thuốc lợi tiểu tương tự thiazid hoặc lợi tiểu quai. Bệnh nhân cao tuổi mắc STSH đặc biệt nhạy cảm với giảm thể tích tuần hoàn cùng với mất nước, hạ huyết áp và tăng urê máu trước thận xảy ra khi tác dụng lợi tiểu quá mức. Các NSAID có thể làm giảm tác dụng chống tăng huyết áp và natri niệu của thuốc lợi tiểu quai.

Thuốc lợi tiểu thiazid hay gây tăng đường huyết lúc đói và khởi phát đái tháo đường mới hơn so với các thuốc ức chế men chuyển và chẹn kênh calci. Thuốc lợi tiểu thiazid cũng có thể làm tăng nồng độ acid uric trong máu và bệnh gút. Do đó, cần tránh hoặc sử dụng thận trọng thuốc lợi tiểu thiazid ở bệnh nhân có tiến sử mắc gút.

Các thuốc lợi tiểu kháng aldosteron và lợi tiểu giữ kali có thể gây ra tăng kali máu. Nên tránh dùng những thuốc này khi nồng độ kali huyết
> 5,0 mEq/L, hay nồng độ creatinin huyết thanh > 2,5 mg/dL (220 µmol/l) ở nam giới và > 2,0
mg/dL (180 µmol/l) ở nữ giới.

3.2 Thuốc chẹn β-adrenergic

Hiệu quả của thuốc chẹn thụ thể β-adrenergic trong việc giảm các biến cố mới trên mạch vành ở bệnh nhân cao tuổi có tiền sử nhồi máu cơ tim đặc biệt tăng lên ở bệnh nhân tiểu đường, bệnh động mạch ngoại biên, phân số tống máu thất trái (LVEF) bất thường, loạn nhịp thất phức tạp với LVEF bình thường hoặc bất thường và suy tim sung huyết với LVEF bình thường hoặc bất thường. Ngoài ra, thuốc chẹn β-adrenergic được chỉ định ở những bệnh nhân bị tăng huyết áp kèm đau thắt ngực, thiếu máu cục bộ cơ tim, nhịp nhanh trên thất như rung nhĩ kèm theo nhịp thất nhanh, cường giáp, tăng huyết áp trước phẫu thuật, đau nửa đầu hoặc run vô căn.

Chống chỉ định thuốc chẹn β-adrenergic ở những bệnh nhân bị nhịp chậm xoang nặng, bệnh xoang nhĩ và blốc nhĩ thất độ I, II và III. Cũng không nên chỉ định thuốc chẹn β-adrenergic cho bệnh nhân hen phế quản, bệnh phổi có co thắt phế quản nặng, bệnh động mạch ngoại vi rất nặng với những cơn đau xảy ra cả vào lúc nghỉ ngơi. Thêm vào đó, cần thận trọng khi sử dụng các thuốc nhóm này ở bệnh nhân bị tiểu đường không ổn định và có tiền sử hạ đường huyết bởi các thuốc chẹn β-adrenergic có thể che dấu triệu chứng hạ đường huyết. Thuốc chẹn beta cũng có thể gây ra trầm cảm hoặc lẫn lộn ở người cao tuổi. Hiện nay có ít bằng chứng khuyến cáo sử dụng thuốc chẹn β-adrenergic là thuốc đầu tay điều trị các trường hợp tăng huyết áp chưa có biến chứng.

3.3 Thuốc ức chế men chuyển và ức chế thụ thể angiotensin (ARA)

Theo JNC 7, thuốc lợi tiểu và ức chế men chuyển được chỉ định để dự phòng đột quỵ tái phát ở người cao tuổi có tăng huyết áp. Nên điều trị cho bệnh nhân cao tuổi bị STSH bằng thuốc lợi tiểu, ức chế men chuyển phối hợp cùng thuốc chẹn β-adrenergic. Còn bệnh nhân cao tuổi mắc tiểu đường, suy thận mạn và protein
niệu nên được chỉ định thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể angiotensin II typ 1. Nếu bệnh nhân cao tuổi không dung nạp được thuốc ức chế men chuyển do bị ho, phù mạch thần kinh, phát ban hoặc bị thay đổi vị giác khi sử dụng captopril và các thuốc ức chế men chuyển nhóm sulfhydryl khác, nên dùng một thuốc ức chế thụ thể angiotensin II thay thế.

Có 5-20% bệnh nhân bị ho khi điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển. Cơ chế có thể liên quan tới sự tích lũy prostaglandin, bradykinin hoặc chất P. Phù mạch thần kinh xảy ra trên 0,1-0,2% bệnh nhân dùng các thuốc ức chế men chuyển.

Ðể tránh tăng kali huyết, không dùng các thuốc lợi tiểu giữ kali cho những bệnh nhân đang sử dụng thuốc ức chế men chuyển hoặc ARA. Các yếu tố nguy cơ gây suy thận ở bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển hoặc ARA bao gồm có hẹp động mạch thận (thường cả hai bên), bệnh thận đa nang, giảm thể tích máu tuyệt đối hoặc thể tích máu động mạch hiệu quả, sử dụng thuốc NSAID, cyclosporin hoặc tacrolimus và nhiễm trùng huyết. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân cao tuổi điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc ARA khi đang bị mất nước hoặc mất muối, suy thận xảy ra có thể hồi phục được.

 3.4 Thuốc chẹn kênh calci

Các thuốc chẹn kênh calci nhóm
dihydropiridin tác dụng ngắn có thể làm tăng các biến cố tim mạch và nên tránh sử dụng. Chống chỉ định dùng verapamil và diltiazem ở bệnh nhân bị nhịp chậm xoang nặng, bệnh xoang nhĩ và blốc nhĩ thất độ I, II và III. Ngoài ra, chống chỉ định ở bệnh nhân sau nhồi máu với LVEF bất thường bởi các thuốc này có thể làm tăng các biến cố trên mạch vành và khả năng tử vong cũng như gây ra suy tim sung huyết. Các thuốc chẹn kênh calci như nifedipin, diltiazem và verapamil làm trầm trọng hơn chứng suy tim ở các bệnh nhân bị STSH và có LVEF bất thường. Phản ứng có hại thường gặp nhất trên các bệnh nhân tăng huyết áp được điều trị bằng
verapamil hoặc diltiazem là táo bón.

Các thuốc chẹn kênh calci chọn lọc trên mạch là amlodipin và felodipin không ảnh hưởng rõ rệt tới thời gian sống thêm của các bệnh nhân bị suy tim sung huyết và có LVEF bất thường.

3.5 Thuốc chẹn α-adrenergic

Các thuốc chẹn α-adrenergic bao gồm
doxazosin, prazosin và terazosin. Trong thử nghiệm ALLHAT (Antihypertensive and Lipid-Lowering
Treatment on Prevent Heart Attack Trial) việc dùng doxazosin trên 9067 bệnh nhân đã bị ngừng lại sớm sau thời gian điều trị trung bình là 3,3 năm. So với thuốc lợi tiểu chlortalidon, doxazosin làm tăng STSH 104%, đột quỵ 19% và bệnh tim mạch phối hợp (bệnh tim mạch vành gây tử vong, nhồi máu cơ tim không gây tử vong, đột quỵ, đau thắt ngực, tái tưới máu động mạch vành, STSH, bệnh mạch ngoại biên) 25%, đau thắt ngực 16% và tái tưới máu động mạch vành 15%.

Tần suất cao gặp hạ áp tư thế khi sử dụng thuốc chẹn α-adrenergic, đặc biệt ở những bệnh nhân dùng thuốc lợi tiểu hoặc các thuốc giãn mạch khác.

3.6 Thuốc tác dụng theo cơ chế trung ương

Các thuốc tác dụng theo cơ chế trung ương bao gồm clonidin, methyldopa, reserpin, guanfacin, moxonidin, guanethidin, hexamethonium, mecamylamin và phenoxybenzamin. Không dùng riêng những thuốc này trên người cao tuổi bởi có tỷ lệ cao gặp tác dụng phụ an thần, gây ra hoặc làm nặng thêm bệnh trầm cảm và gây táo bón.

3.7 Thuốc giãn mạch trực tiếp

Thuốc giãn mạch trực tiếp gồm có hydralazin
và minoxidil. Các thuốc này có thể gây ra đau đầu, giữ nước, nhịp tim nhanh và làm trầm trọng hơn chứng đau thắt ngực. Một nghiên cứu cho thấy hydralazin gây hội chứng giả lupus ở 6,7% trong tổng số 281 bệnh nhân điều trị bằng thuốc này trong vòng 3 năm. Tỷ lệ này là 0% ở bệnh nhân dùng hydralazin 50mg/ngày, 5,4% ở bệnh nhân dùng 100mg/ngày và 10,4% ở bệnh nhân dùng 200mg/ngày. Minoxidil có thể gây ra rậm lông và tràn dịch màng ngoài tim.

4. Kết luận

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được tác dụng của các thuốc điều trị tăng huyết áp trong việc giảm tiến triển các biến cố mới trên mạch vành, đột quỵ và suy tim sung huyết ở người cao tuổi. Tuy nhiên, cần thận trọng trước các tác dụng không mong muốn gặp phải trong quá trình điều trị bằng những thuốc này. Các tác dụng không mong muốn phụ thuộc vào loại thuốc sử dụng, liều dùng, bệnh mắc kèm và tương tác thuốc – thuốc.

Những thực phẩm cần tránh xa với người mắc bệnh cao huyết áp

Bệnh cao huyết áp, ngoài việc điều trị bằng thuốc, người bệnh cần chú ý khi ăn uống, đặc biệt cần tránh những thực phẩm dễ làm cho huyết áp tăng cao.

Phấn rôm, không tốt như vẫn tưởng ‘Bí kíp’ đẩy lùi các thói quen không tốt cho sức khỏe Những thói quen không tốt cho sức khỏe của phụ nữ 3 thói quen không tốt cho răng

1. Trà đặc

Trà đặc, đặc biệt là hồng trà dặc có chứa nhiều chất kiềm, có thể làm cho đại não hưng phấn, bất an, mất ngủ, tim đập loạn nhịp, huyết áp tăng cao. Vậy nên người bị cao huyết áp không nên uống trà đặc. Nếu bạn không thể từ bỏ trà đặc có thể thay thế bằng trà xanh, nhiều tài liệu đã chỉ ra công dụng của trà xanh tốt trong quá trình điều trị bệnh cao huyết áp.

Cải thiện tình trạng cao huyết áp ở người cao tuổi

Vậy nên người bị cao huyết áp không nên uống trà đặc.


2. Thịt chó

Thịt chó được rất nhiều người ưa chuộng, thịt chó vừa giầu đạm lại vừa ăn ngon, là thứ mồi nhậu tuyệt vời cho nam giới. Nhưng theo Đông y, thịt chó ôn thận, trợ dương, làm tăng sự âm suy dương thịnh dẫn tới cao huyết áp. Vậy nên người bị cao huyết áp cũng không nên ăn nhiều loại thực phẩm này.

3. Muối

Đã có khá nhiều tài liệu nói người bệnh cao huyết áp không nên ăn mặn bởi trong muối ăn có natri làm tiết ra nhiều dịch tế bào, dẫn đến tim đập nhanh, huyết áp cao. Vậy nên người đã bị huyết áp cao thì nên giảm lượng muối ăn hàng ngày.

4. Thực phẩm cay

Thực phẩm cay không tốt cho người bị cao huyết áp. Vì chúng có thể khiến việc đi ngoài khó khăn hơn, dẫn đến táo bón. Người bệnh cao huyết áp lúc đi ngoài bị táo bón sẽ làm cho huyết áp tăng lên, có nguy cơ dẫn đến xuất huyết não.

5. Protein động vật

Đó là các phủ tạng động vật như gan, tim, bầu dục … vì các thực phẩm này dễ sinh ra độc tố khiến huyết áp bất ổn. Với người bị cao huyết áp,có thể bổ sung các loại tôm, cá, và các loại rau quả tươi.Thức ăn có nhiều năng lượng

6. Thức ăn nhiều năng lượng

Các loại thực phẩm như đường glucô, đường mía, chocolate và các loại thức ăn nhanh… làm tăng nguy cơ dẫn tới thừa cân, béo phì từ đó làm tăng nguy cơ bị cao huyết áp.

7. Mỡ và cholesterol

Các loại thực phẩm chiên rán, thịt mỡ, phủ tạng động vật dễ dẫn tới máu nhiễm mỡ, khiến động mạch xơ cứng, làm tăng huyết áp.

8. Thịt gà

Thật sự thịt gà không tốt cho người bị cao huyết áp bởi nếu ăn nhiều thịt gà sẽ khiến cho cholesterol và huyết áp tăng cao. Vậy nên người bệnh nên hạn chế ăn thịt gà để tránh tình trạng bệnh nặng thêm.

Cải thiện tình trạng cao huyết áp ở người cao tuổi

Ăn nhiều thịt gà sẽ khiến cho cholesterol và huyết áp tăng cao.

9. Rượu

Rượu khi đi vào cơ thể khiến tim đập nhanh hơn, mạch máu co lại, huyết áp tăng và làm cho muối canxi cholesterol đọng lại ở thành mạch, tạo ra xơ cứng động mạch. Người bị nghiện rượu có nguy cơ cao bị xơ cứng động mạch và huyết áp cao.

Lời khuyên cho người bị huyết áp cao

1. Đi bộ

Đi bộ là hình thức tập luyện rất tốt cho người bị cao huyết áp, giúp giảm áp lực trong máu và giúp tim sử dụng được nhiều oxy hơn gấp 4-5 lần so với bình thường. Các chuyên gia khuyên bạn nên đi bộ đều đặn mỗi ngày từ 15 đến 30 phút sẽ giảm nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến tim mạch và những biến chứng do huyết áp cao gây ra.

2. Tập hít thở sâu

Tuy là một thao tác rất đơn giản nhưng hít thở sâu lại có tác dụng to lớn là bình ổn huyết áp. Hít thở sâu vừa có tác dụng giảm stress và cũng tạo cơ hội cho bạn kiểm soát huyết áp của chính mình. Để vận dụng hít thở sâu một cách tối đa, bạn có thể dành khoảng 10 phút vào mỗi tối hoặc sáng để hít thở, nên nhớ hít thở càng sâu càng tốt và nếu có điều kiện bạn có thể tham gia thêm lớp học yoga.

3. Điều chỉnh chế độ ăn uống hợp lý

Các thực phẩm tốt cho người bệnh cao huyết áp có thể kể tới như cần tây, cải cúc, rau muống, măng lau, cà chua, cà tím, cà rốt, nấm hương, tỏi, mộc nhĩ…..Người bệnh nên ăn chậm nhai kỹ, ăn nhiều vào buổi sáng, hạn chế ăn muối và các thực phẩm không tốt như đã nêu ở trên.

loading...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *