Sức khỏe nam giới

Ðể hết lồi mắt sau bệnh Basedow – Điều trị chứng lồi mắt trong bệnh Basedow

Bệnh basedow rất nguy hiểm ảnh hưởng rất nhiều đến người bệnh, biểu hiện của bệnh rõ ràng rất là lồi mắt. Vậy làm sao để xác định được dấu hiệu gây bệnh basedown, triệu chứng là gì, để sớm phát hiện và điểu trị kịp thời bệnh basedow này. Cùng chúng tôi tham khảo bài viết sau để có thêm một số thông tin cần thiết về bệnh basedow này nhé!

Loading...

Ðể hết lồi mắt sau bệnh Basedow

Cho đến nay, nhiều người vẫn tin rằng lồi mắt chỉ là một triệu chứng của bệnh Basedow. Nếu đúng như vậy thì khi bệnh khỏi triệu chứng cũng phải hết. Tuy nhiên, trên thực tế lâm sàng người ta thấy rất nhiều trường hợp bệnh nhân đã được điều trị khỏi Basedow, hoàn toàn hết nhiễm độc giáp nhưng vẫn không hết lồi mắt, thậm chí lồi mắt mới xuất hiện hoặc tiếp tục tiến triển. Như vậy lồi mắt không còn chỉ là triệu chứng của Basedow mà nó có sự tiến triển độc lập tương đối so với bệnh tuyến giáp.

Ðể hết lồi mắt sau bệnh Basedow -  Điều trị chứng lồi mắt trong bệnh Basedow

Lồi mắt do bướu cổ thực chất chỉ là một trong những dấu hiệu dễ thấy nhất của “Bệnh mắt liên quan tuyến giáp”. Bệnh còn có tên gọi khác là “Bệnh mắt Basedow”. Người ta thấy bệnh nhân có rối loạn hormon giáp cả về phía cường giáp và phía nhược giáp có nhiều khả năng bị bệnh mắt hơn những bệnh nhân bình giáp.

Những tổn thương mắt thường gặp liên quan tuyến giáp

– Lồi mắt: sự phù nề và tăng sinh của các tổ chức trong hốc mắt đẩy nhãn cầu nhô ra trước gây ra chứng này. Độ lồi của nhãn cầu được tính bằng đường chiếu từ đỉnh giác mạc xuống đường thẳng đi ngang qua bờ ngoài của hai hốc mắt và được đo bằng thước Hertel. Độ lồi từ 18 – 20mm là lồi mắt mức độ nhẹ, từ 21 – 23mm là mức trung bình, trên 24mm là lồi mắt mức độ nặng hoặc nếu lồi một mắt thì độ lồi phải chênh so với mắt kia 3mm trở lên. Lồi mắt nặng làm cho mi nhắm không kín có thể dẫn tới biến chứng viêm loét giác mạc, có trường hợp phải khoét bỏ mắt.

– Co rút mi: dấu hiệu này thấy rất rõ ở mi trên. Bình thường, mi trên che một phần cực trên của giác mạc (tròng đen), bờ tự do của mi trên ở bên dưới đỉnh điểm của giác mạc chừng 2mm. Khi bờ mi ở trên đỉnh điểm giác mạc là co rút mi đã ở mức độ 2 hoặc mức cao hơn nếu khoảng cách bờ mi – đỉnh giác mạc càng xa. Mi co rút càng làm cho người quan sát có cảm giác bệnh nhân lồi mắt nặng hơn. Co rút mi cùng với lồi mắt gây hở mi khi nhắm nhẹ và khi ngủ. Hở mi, lộ giác mạc đưa tới cảm giác cộm, khô mắt, chảy nước mắt và sợ ánh sáng.

– Nhìn đôi (song thị) hoặc lác: có 4 đôi cơ vận nhãn đảm bảo cho mắt liếc được các hướng. Các cơ vận nhãn này bị viêm, phù nề, phì đại và dần dần xơ hóa nhưng mức độ tổn thương mỗi cơ rất khác nhau dẫn đến chứng nhìn đôi, ban đầu nhìn đôi từng lúc và về sau nặng hơn là lác. Gặp nhiều hơn là lác xuống dưới và lác vào trong. Có lác hoặc nhìn đôi là có thể nói cơ vận nhãn bị phì đại. Tuy nhiên, để chẩn đoán xác định và để biết mức độ phì đại của từng cơ thì cách tốt nhất là dựa vào phim chụp cắt lớp vi tính (CT).

– Tăng nhãn áp: sự nề phù và tăng sinh của các tổ chức trong hốc mắt sẽ ép vào nhãn cầu từ phía sau. Lực ép này vừa gây lồi mắt, vừa có thể gây tăng nhãn áp. Áp lực nội nhãn tăng lâu ngày sẽ đưa tới tổn hại thị lực, thị trường. Đo nhãn áp vì vậy là khám nghiệm không thể thiếu khi khám bệnh.

– Giảm thị lực: các cơ vận nhãn khi bị phì đại sẽ chèn ép dây thần kinh thị giác ở đoạn đỉnh hốc mắt, đây là nguyên nhân gây giảm thị lực hay gặp trong bệnh mắt liên quan tuyến giáp. Giảm thị lực còn có thể do tăng nhãn áp lâu ngày.

Tiến triển bệnh mắt liên quan tuyến giáp

Ban đầu là giai đoạn viêm. Khi đó kết mạc cương tụ làm cho mắt đỏ. Trường hợp cương tụ nặng, kết mạc nề phù có khi phòi qua khe mi. Hay gặp hơn là mức cương tụ đỏ sẫm ở chỗ bám của các cơ thẳng vận nhãn, nơi cách rìa giác mạc khoảng 5 – 8mm về bốn phía trên dưới trong ngoài. Ở giai đoạn sau – giai đoạn không viêm – kết mạc không còn cương tụ mà có màu trắng trong gần như bình thường. Khi đó các dấu hiệu lồi mắt, co rút mi, lác được thấy rõ ràng hơn.

Ðể hết lồi mắt sau bệnh Basedow -  Điều trị chứng lồi mắt trong bệnh Basedow

Xác định bệnh mắt liên quan tuyến giáp có khó không?

Điều trị các chứng bệnh mắt liên quan tuyến giápTrên lâm sàng tương đối dễ dàng với một trong các chứng lồi mắt, co rút mi, song thị xuất hiện trên bệnh nhân có bướu tuyến giáp lan tỏa nhiễm độc hoặc trước đó có bệnh tuyến giáp nhưng đã được điều trị ổn định, thậm chí bị nhược giáp. Các dấu hiệu về thị lực, nhãn áp, cương tụ kết mạc… chỉ có giá trị giúp cho chẩn đoán giai đoạn và mức độ bệnh. Trường hợp bệnh nhân chỉ lồi một mắt, bệnh nhân không rõ các triệu chứng của bệnh tuyến giáp là rất khó chẩn đoán xác định, cần đến các khám nghiệm chuyên biệt ở những cơ sở chuyên khoa sâu.

Phải tùy vào mức độ của bệnh. Nếu bệnh ở mức độ nhẹ: các dấu hiệu chức năng như thị lực của từng mắt còn bình thường, không có nhìn đôi, mi nhắm kín, không có dấu hiệu của viêm thì chỉ cần khám đo các chỉ tiêu như thị lực, độ lồi, nhãn áp, độ co rút mi, tình trạng vận nhãn và theo dõi mỗi 3 – 6 tháng.

Nếu bệnh ở mức độ nặng nhưng còn ở giai đoạn viêm thì cần điều trị bằng liệu pháp corticoid hoặc chiếu xạ hốc mắt. Bệnh mức độ nặng không viêm hoặc có viêm nhưng đã điều trị ổn định thì chỉ định phẫu thuật giảm áp hốc mắt. Nếu bệnh nhân bị bệnh ở hai mắt thì mắt thứ hai được mổ sau mắt kia ít nhất một tháng. Sau đó  khoảng 2 – 3 tháng, cả hai mắt hết lồi mới tính đến chỉ định mổ điều trị co rút cơ nâng mi trên và chỉnh lác nếu có. Trường hợp có sự đe dọa tổn thương chức năng hoặc tổn thương thực thể như viêm loét giác mạc do hở mi, giảm thị lực nghiêm trọng do dây thần kinh thị giác bị chèn ép, bất kể là có viêm hay không viêm, cần tiến hành điều trị ngoại khoa sớm kết hợp chống viêm tích cực. Chỉ định phẫu thuật giảm áp hốc mắt hoặc kéo dài cơ nâng mi trên vì lý do thẩm mỹ đơn thuần là điều phải hết sức cân nhắc vì sự khó khăn và nặng nề của phẫu thuật và sự tiến triển khó lường của bệnh.

Lồi mắt do bệnh Basedow

Basedow là một bệnh lý của tuyến giáp. Bệnh xuất hiện do tuyến giáp sản xuất quá nhiều hoóc môn. Hàm lượng hoóc môn giáp cao trong máu gây ra những tổn hại về mô và chuyển hoá. Bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, song phần lớn là ở độ tuổi lao động, nữ giới hay mắc hơn nam giới. Trong bệnh Basedow, ngoài triệu chứng điển hình như bướu cổ, rối loạn tim mạch thì lồi mắt cũng là một trong những dấu hiệu hay gặp của bệnh. Nguy hiểm hơn chứng lồi mắt này nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời dễ viêm loét gây nhiễm trùng mắt, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa.

Nguyên nhân gây lồi mắt

Nguyên nhân cơ bản do thâm nhiễm tế bào Lympho đi kèm với sự phù nề của các mô và ở hốc mắt và sau nhãn cầu gây ra. Những thành phần này đẩy nhãn cầu ra phía trước làm cho mắt bị lồi. Khi mắt bị lồi cơ mi trên của mắt co lại, nhìn thấy cả vùng củng mạc trắng ở phía trên. Đi kèm với chứng lồi mắt, bệnh nhân thường cảm thấy chói mắt, chảy nước mắt, cảm giác như có bụi bay vào mắt hoặc rất nóng rát. Bên mắt lồi thường long lanh hơn bình thường, ít chớp mắt, người bệnh thường không nhắm kín mắt khi ngủ. Khi bị lồi quá mức, mắt sẽ không nhắm kín, mi hở nên giác mạc dễ viêm loét và tổn thương. Nếu không điều trị sớm sẽ dẫn đến nhiễm trùng mắt. Nặng hơn, bệnh nhân có thể bị khô và loét giác mạc là nguyên nhân gây mù lòa vĩnh viễn. Độ lồi mắt nhiều hay ít không liên quan tới bướu cổ của bệnh nhân là to hay nhỏ. Mắt có thể lồi rất nhiều trên những bệnh nhân có bướu cổ nhỏ và ngược lại có thể lồi rất ít trên những bệnh nhân bướu cổ to. Lồi mắt thường xảy ra ở cả hai mắt, đôi khi rõ rệt ở một bên hơn là bên kia. Cũng có những bệnh nhân chỉ bị lồi một bên mắt nhưng rất hiếm gặp.

Ðể hết lồi mắt sau bệnh Basedow -  Điều trị chứng lồi mắt trong bệnh Basedow

Khi nào cần điều trị chứng lồi mắt do Basedow?

Nếu ở mức độ nhẹ như chưa có các triệu chứng cộm, chói mắt… bệnh nhân chưa cần điều trị. Khi bệnh nhân luôn có cảm giác chói mắt, chảy nước mắt, nóng rát hoặc như có bụi bay vào…bệnh nhân cần được điều trị. Việc điều trị sớm rất hiệu quả, nhiều bệnh nhân sẽ hết chứng lồi mắt. Tùy mức độ lồi mắt các bác sĩ có phác đồ điều trị thích hợp dùng thuốc, xạ trị hay phẫu thuật.

Việc điều trị chứng lồi mắt do bệnh Basedow phải tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ nhãn khoa và theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị. Người bệnh không tự ý nhỏ thuốc mắt hay thẩm mỹ viện ở những cơ sở y tế  không có uy tín. Quan trọng hơn, trong quá trình điều trị người bệnh tuyệt đối không được hút thuốc lá – đây là yếu tố làm bệnh nặng hơn. Khi có những dấu hiệu của lồi mắt do bệnh Basedow như: chói mắt, chảy nước mắt, nóng rát… cần đến ngay cơ sở  y tế có chuyên khoa mắt để khám và điều trị kịp thời.

 Điều trị chứng lồi mắt trong bệnh Basedow

Chứng lồi mắt ảnh hưởng đến vẻ đẹp của khuôn mặt người bệnh,khiến họ mất ăn, mất ngủ. Rất nhiều bệnh nhân đã yêu cầu các bác sĩ tìm mọicách điều trị cho mình hết chứng bệnh này.

Trong bệnh Basedow lồi mắt là dấu hiệu hay gặp nhất. Theonhững công trình nghiên cứu mới nhất, dấu hiệu này gặp được trong 40 – 45% cáctrường hợp. Chính vì vậy người ta còn gọi bệnh Basedow với một cái tên khác làbệnh bướu cổ lồi mắt.

Phân loại mức độ lồi mắt

Lồi mắt thường xảy ra ở cả hai mắt, đôi khi rõ rệt ở một bênhơn là bên kia. Cũng có những bệnh nhân chỉ bị lồi một bên mắt nhưng rất hiếmgặp.

Đi kèm với chứng lồi mắt bệnh nhân thường cảm thấy chói mắt,chảy nước mắt sống, cảm giác như có bụi bay vào mắt hoặc rất nóng rát. Nặng hơnbệnh nhân có thể bị khô và loét giác mạc là nguyên nhân gây lên mù lòa vĩnhviễn.

Trong thực hành bệnh viện, các bác sĩ hay áp dụng bảng phânloại Werner của Hiệp hội Tuyến giáp Mỹ với 6 mức độ: độ 1 và 2  là nhẹ, độ 3 là vừa, độ 4 – 6 là nặng.

Với những trường hợp khó khăn trong chẩn đoán và phân loại,người ta sử dụng thước đo độ lồi mắt Hertel. Độ lồi mắt khác nhau tùy theochủng tộc và dân tộc, ở người Việt Nam bình thường độ lồi mắt vào khoảng 12mm,độ lồi tăng lên trong bệnh nhân Basedow.

Điều trị như thế nào?

Một số trường hợp chứng lồi mắt có thể thay đổi cùng vớitiến triển của bệnh sau khi điều trị. Khoảng 30% số bệnh nhân sẽ hết lồi mắtsau khi phẫu thuật, thường là những bệnh nhân lồi mắt ở mức độ nhẹ và vừa.

Có 3 phương pháp điều trị chứng lồi mắt gồm: sử dụng thuốccorticoides liều cao, xạ trị và phẫu thuật.

Với những bệnh nhân lồi mắt độ 1, thường không cần phải điềutrị.

Những bệnh nhân lồi mắt độ 2, việc điều trị bao gồm:

– Đeo kính sẫm màu.

– Nhỏ hoặc tra các loại pomade nước mắt nhân tạo để tránhbiến chứng khô giác mạc.

Nhỏ một loại thuốc nước đặc biệt để làm giảm mức độ cường cơvận nhãn. Thuốc này được cho theo chỉ định của bác sĩ nhãn khoa.

Những bệnh nhân lồi mắt từ độ 3 trở lên, việc điều trị phứctạp hơn nhiều và không phải lúc nào cũng có hiệu quả:

– Thuốc corticoides liều cao như Prednisone 100mg một ngày(20 viên) từ 5 – 7 tuần. Tuy nhiên, cần chú ý khả năng dung nạp kém vớicorticoides ở người Việt Namso với bệnh nhân phương Tây. Biến chứng hay gặp nhất của việc sử dụng thuốc là viêm loét dạ dày có thể gây xuấthuyết tiêu hóa và phù do giữ nước.

– Xạ trị: dùng máy tạo chất phóng xạ chiếu vào vùng hốc mắt:tuy nhiên phương pháp này chỉ có hiệu quả điều trị lồi mắt trong giai đoạn sớmvà không có tác dụng trong giai đoạn sẹo đã hình thành phía sau hốc mắt.

– Điều trị bằng phẫu thuật: được sử dụng cho những trườnghợp thất bại với điều trị bằng corticoides và xạ trị, bao gồm:

Khâu cò mí mắt: nhằm làm giảm độ hở của mi mắt.

Phẫu thuật chỉnh hình làm giảm độ co rút của cơ vận nhãn.

Phẫu thuật làm giải áp hốc mắt trong những trường hợp lồimắt ác tính có tổn thương thần kinh thị gây giảm và mất thị lực hoặc do yêu cầuthẩm mỹ của bệnh nhân.

Phẫu thuật tạo hình sau giải áp hốc mắt.

Tất cả những phẫu thuật này được thực hiện bởi các bác sĩnhãn khoa và tạo hình.

 

loading...