Sức khỏe người cao tuổi

Điều trị rối loạn tuần hoàn não bằng nấm linh chi xanh và các vị thuốc phương đông

Chữa trị rối loạn tuần hoàn não bằng phương pháp đông y, nấm linh chi xanh tuy có tác dụng chậm nhưng lại mang hiệu quả lâu dài. Mời các bạn tham khảo qua bài viết sau đây.

Loading...

Không dựa trên các kiến thức về giải phẫu, sinh lý, vi sinh…, Đông y quan niệm mọi thứ đều do “âm dương thất điều”, mất sự cân bằng và trung dung gây nên. Để chữa trị bệnh tật, Đông y sử dụng 8 liệu pháp cơ bản hãn, thổ, hạ, hòa, ôn, thanh, tiêu, bổ để khôi phục cân bằng chỉnh thể, hóa giải mâu thuẫn giữa chính khí (sức chống bệnh) và tà khí (tác nhân gây bệnh).

Phương châm cơ bản của Đông y trong chữa bệnh coi trọng khả năng tự phục hồi và tái tạo của cơ thể, lấy việc huy động tiềm năng của con người làm phương châm chính. Vì vậy, bệnh nhân được coi là chủ thể, nghĩa là người là gốc, là chủ thể, bệnh chỉ là ngọn.

Việc điều trị cần đi từ cái “gốc” là tăng cường chức năng vận mạch, cải thiện tuần hoàn nuôi dưỡng tiền đình, chứ không chỉ khu trú ở phần “ngọn” là giảm các triệu chứng trước mắt. Để điều trị chứng này cần hoạt huyết, bổ dương khí, hóa đàm.Với những chứng bệnh có liên quan đến tuần hoàn não như suy giảm tuần hoàn não, suy nhược thần kinh, tai biến mạch máu não, hiện có nhiều cách chữa trị khác nhau. Đối với Đông y, nguyên nhân của các chứng liên quan tới bệnh về tuần hoàn não là do tiên thiên bất túc làm rối loạn công năng về tinh – khí – thần của các tạng phủ, đặc biệt là tâm, can, tỳ, thận.

Nguyên lý này được áp dụng trong viên nang hoạt huyết dưỡng não Cerecaps của Công ty cổ phần Dược TW Mediplantex sản xuất. Vận dụng bài thuốc cổ phương “huyết phủ trục ứ thang”, Cerecaps được tạo nên từ những vị thuốc thảo dược quý như Đương quy, Hồng hoa có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, hóa ứ là chủ dược; Xuyên khung, Xích thược hoạt huyết hòa âm; Ngưu tất hoạt huyết thông mạch; Sài hồ hạ nhiệt, an thần, giảm đau; Chỉ xác hành khí, giúp lưu thông khí huyết. Đây có thể coi là “huyết phủ trục ứ thang” thời hiện đại bởi Cerecaps không chỉ hoạt huyết (tăng cường lưu thông máu) mà còn có tác dụng bổ huyết (ngăn ngừa và trị chứng thiếu máu), khắc phục và điều trị tận gốc những chứng bệnh liên quan đến huyết ứ khí trệ. Với một lượng cao bạch quả được gia giảm thích hợp, Cerecaps có tác dụng phá huyết tiêu ứ mạnh đồng thời giúp bổ khí huyết, tăng cường tuần hoàn não nhanh chóng.

Với những công dụng trên, những chứng bệnh có liên quan đến thiếu máu, tuần hoàn não kém như đau đầu, ù tai, hoa mắt, chóng mặt, hay cáu gắt ở người có tuổi, mất ngủ, ngủ hay mê, suy giảm trí nhớ; Di chứng do tai biến mạch máu não; Thiếu máu, sạm da, đứng lên ngồi xuống hay bị chóng mặt; Căng thẳng, mệt mỏi, mất tập trung; hay chứng tê bì, nhức mỏi chân tay… đều có thể cải thiện và dần dần được chữa khỏi nhờ Hoạt huyết dưỡng não Cerecaps. Một ưu việt nữa của thuốc là được bào chế từ các loại thảo dược rất lành tính trong dân gian nên Cerecaps không gây tác dụng phụ, an toàn cho người sử dụng.

Hoạt huyết dưỡng não Cerecaps hiện có bán tại các nhà thuốc toàn quốc dưới dạng hộp 3 vỉ x 10 viên nang.

 

 

Nấm linh chi xanh có hiệu quả tốt trong việc điều trị các bệnh về não

Não là cơ quan quan trọng nhất cơ thể, vì vậy chỉ những rối loạn nhẹ của não cũng khiến bạn bị choáng, mệt mỏi hoặc ngất… ảnh hưởng tới khả năng lao động, chất lượng cuộc sống. Nếu xem nhẹ tình trạng này có thể dẫn đến bệnh nặng hơn gây nhũn não, liệt nửa người hoặc tử vong.

Nguyên nhân của rối loạn tuần hoàn não là suy giảm khả năng tuần hoàn, xơ vữa mạch máu, thường gặp ở những người lao động trí óc với cường độ cao trong thời gian dài. Khi bị mắc bệnh này bạn sẽ có những hiểu hiện như đau đầu thường xuyên, không xác định được vị trí đau, mệt mỏi kém tập trung, hay quên, rối loạn giấc ngủ và cảm xúc…

Theo Đông y khí suy dẫn đến huyết ứ mà gây bệnh. Khí hư suy có thể gây ra nhiều bệnh: nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, đau đầu, mệt mỏi, mất ngủ, hay quên và lo sợ. Để lâu ngày có thể làm tắc trở kinh mạch mà gây ra bại xụi, tê dại.

Để trị bệnh cần có chế độ ăn uống nghỉ ngơi hợp lý và dùng những bài thuốc dựa theo nguyên tắc điều trị lấy bổ khí làm chủ, kết hợp hoạt huyết, dưỡng huyết. Sau nhiều năm nghiên cứu các loại thảo dược nổi tiếng trong việc phụ hồi sức khỏe, tốt cho não các bác sĩ y học cổ truyền đã khẳng định nấm lim xanh tốt trong điều trị rối loạn tuần hoàn não, là linh dược bổ não hiệu quả.

Người bệnh nên sử dụng thuốc liên tục 2 tháng trở lên để bệnh giảm hẳn, nâng cao sức khỏe, chống tái phát. Nấm lim xanh giúp thông huyết, sức co bóp tim, trị cơ thể suy nhược, giúp an thần dễ ngủ, tăng cường hiệu quả điều trị. Không những tốt cho não, tim các dược chất của nấm còn phát huy tác dụng trong cả cơ thể khiến sức khỏe dồi dào, hết bệnh tật và trí tuệ minh mẫn.

Thiểu năng tuần hoàn não Theo y học cổ truyền

Bệnh danh:

Thiểu năng tuần hoàn não thuộc phạm vi chứng “Huyễn vựng” của Y học cổ truyền. Huyễn là hoa mắt, Vựng là chóng mặt chao đảo như ngồi trên thuyền, chòng chành mọi vật xoay chuyển nghiêng ngã. Nhẹ thì thoáng qua, nặng thì tức ngực buồn nôn, đổ mồ hôi, ngặng nữa thì ngất xỉu. Dân gian gọi chung là hoa mắt chóng mặt.

Nguyên nhân bệnh lý theo YHCT:

  1. Can dương thượng cang: Do Can dương thịnh bốc lên trên gây huyễn vựng. “Sách Tố Vấn chí nhân đại luận nói: mọi chứng quay cuồng chao đảo đều thuộc Can mộc, ý nói can phong nội động sinh ra”. Hoặc do tình chí không thư thái, uất ức lâu ngày khiến can âm hao tổn, Can dương thăng động bốc lên trên gây Huyễn Vựng. Có khu Thận âm hư tổng không dưỡng được can mộc dẫn đến can âm thiếu can dương bốc lên gây Huyễn Vựng.
  2. Đờm trọc trung trở: Do ăn uống nhiều thứ bổ béo, hại đến tỳ vị, làm cho tỳ vị bị tổn thương, chức năng vận hóa bị rối loạn, thức săn đồ uống không há thành tân dịch mà biến thành đờm thấp, khiến thanh dương không thăng, trọc âm không giáng gây Huyễn Vựng.
  3. Thận tinh bất túc: Do bẩm sinh (tiên thiên bất túc) hoặc do lam lũ làm việc vất vả khiến thận tinh bị tiêu hao, tủy thiếu không nuôi dưỡng được cho não, mà theo YHCT Não là bể của Tủy.
  4. Khí huyết đều hư: Do bệnh lâu ngày không khỏi, hao tổn khí huyết, sau khi mất máu, bệnh chưa hồi phục, hoặc do Tỳ vị hư nhược không vận hóa được thức ăn để sinh ra khí huyết, dẫn đến khí huyết đều hư. Khí hư thì thanh dương yếu không lên được não, Huyết hư thì não không được nuôi dưỡng đều gây chứng chóng mặt.

Như đã bàn ở trên, bệnh Huyễn Vựng thường có chuyển hóa  và tác động qua lại lẫn nhau như thận tinh thiếu là thuộc âm hư, âm hư lại tổn thương đến dương, sẽ chuyển đến dương hư. Như đờm trọc trở ngại ở bên trong, gây nên thấp đờm lâu ngày hóa hỏa, thành đờm hỏa nung nấu ở trong. Mất máu nhiều khiến khí theo huyết cũng mất sẽ dẫn đến bạo thoát (tự vong)

Biện chứng luận trị Thiểu năng tuần hoàn não

  1. Can dương thượng cang:

Triệu chứng: chóng mặt, choáng đầu, ù tai, đầu có lúc đau căng, khi tức giận thì đau tăng, có lúc đỏ mặt do dương thăng, hay cáu gắt, tức giận, ngủ ít hay mơ, miệng đắng, lưỡi đỏ, mạch huyền là biểu tượng của dương cang.

Phép chữa: Bình can tiềm dương, thanh hỏa tức phong

Phương thuốc: Thiên ma cầu đằng ẩm gia giảm (tạp bệnh chứng trị Tân Nghĩa)

Thiên ma8gChi tử12g
Câu đằng12gHoàng cầm10g
Đỗ trọng10gTang ký sinh12g
Thạch quyết minh20gDạ giao đằng10g
Ngưu tất12gBạch thược16g
Phục thần12gÍch mẫu thảo12g
Trân châu mẫu12g

Phân tích bài thuốc:

Trong bài dùng Thiên ma, Câu đằng, Thạch quyết minh để bình can tiềm dương.

Hoàng cầm chi tử để thanh can hỏa.

Tang ký sinh để bổ can thận.

Dạ giao đằng, Bạch linh để dưỡng tâm an thần, gia Bạch thược, Trân châu mẫu để hỗ trợ tác dụng bình can tiềm dương.

Nếu lưỡi đỏ, mạch huyền là can dương thịnh gia: Sinh địa, Nữ trinh tử để dưỡng Can âm.

Nếu ban đầu miệng đắng, lưỡi đỏ, mắt đỏ mạch huyền sác gia: Long đởm thảo, hạ khô thảo, đan bì để thanh can tiết nhiệt.

Bệnh nặng, buồn nôn, chân tay tê cứng, run rẩy gia Quy bản, Mẫu lễ, Từ thạch để tiềm dương tức phong.

Khi bệnh đã tạm ổn thì uống nên thường xuyên uống bài Câu kỷ địa hoàng hoàn để bổ thận, dưỡng Can, duy trì kết quả lâu dài.

  1. Đờm trọc trung trở

Triệu chứng: Đầu choáng váng và nặng nề, hông bụng đầy buồn, buồn nôn, ăn ít ngủ ly bì, lưỡi trắng, mạch nhu hoạt.

Phân tích: Đờm trọc bốc lên nhiễu phần dương, nên đầu choáng quay đảo. Ở trung tiêu không giáng khí, khí không lợi nên hông bụng đầy buồn, buồn nôn, ăn ít, mệt mỏi, ngủ ly bì, lưỡi nhợt nhạt, mạch nhu hoạt đều do đờm trọc úng trệ, thanh dương không thanh.

Phép chữa: Táo thấp tiêu đờm, kiện tỳ hòa vị

Bài thuốc: Bán hạ bạch truật thiên ma thang gia giảm (y học tâm ngộ)

Bán hạ8gBạch truật12g
Trần bì8gThiên ma8g
Phục linh12gSinh khương3g
Camthảo4gĐại táo3 quả

Phân tích bài thuốc:

Bán hạ, trần bì, Bạch linh,Camthảo để hóa thấp trừ đờm.

Bạch truật kiện tỳ táo thấp hợp với Thiên ma để khủ thấp hóa đờm trừ huyễn Vựng.

Hông bụng đầy buồn ăn ít gia: Bạch đậu khấu để hóa trọc khai vị.

Tai ù thêm: Thạch xương bồ, Thông bạch để thông dương khai khiếu.

Nếu đầu nặng, mắt căng, buồn phiền, giật mình, hoảng hốt, miệng đắng là đờm trọc hóa hỏa, cách chữa là Thanh nhiệt hóa đờm, hòa vị giáng nghịch nên dùng bài Hoàng liên ôn đởm thang gia giảm (Ôn đởm thang là Nhị trần thêm chỉ thực trúc nhự và hoàng liên).

  1. Thận tinh bất túc

Triệu chứng:

Váng đầu, mệt mỏi, hay quên, lưng mỏi đau, gối mỏi yếu, tai ù, mất ngủ, đi tinh, chân tay lạnh, lưỡi nhạt, mạch trầm tế.

Nếu thiên về âm hư thì lòng bàn tay, bàn chân nóng, lưỡi đỏ mạch tế, sác.

Nếu thiên về dương hư thì chân tay lạnh, lưỡi bệu, mạch trầm tế.

Phân tích:

Thận là nơi tàng tinh và tủy bị thiếu không cung cấp lên não gây nên huyễn vựng, mờ mịt hay quên. Thận chủ cốt, Lưng là phủ của thận, Thận hư nên thấy buồn mỏi. Thận quan không vững nên có di tinh, Thận khai khiếu ra tai, Thận hư nen tai ù, tai kêu. Thiên về dương hư thì dương hư sinh hàn nên chân tay lạnh, lưỡi nhợt, mạch trầm tế là do dư âm. Thiên về âm hư, thì âm hư sinh nội nhiệt nên lòng bàn tay ấm nóng, lưỡi đỏ, mạch tế sác.

Pháp điều trị:

Thiên về dương hư thì bổ thận, trợ dương

Thiên về âm hư thì bổ thận, tư âm

Bài thuốc:

Thể Thận dương hư: Bài Hữu Quy Hoàn (Cảnh nhạc toàn thư)

Thục địa160gĐương quy80g
Sơn dược80gThỏ ty tử80g
Sơn thù40gPhụ tử20g
Kỷ tử80gNhục quế20g
Đỗ trọng80gLộc giác giao80g

Tán bột làm hoàn. Ngày uống 16-20g

Phân tích bài thuốc:

Quế nhục, Phủ tử, Lộc giác giao để ôn bổ thận dương, ích tinh tủy.

Thục địa, Sơn dược, Sơn thù, Kỷ tử, Thỏ ty tử để tư âm, dưỡng Can, bổ Tỳ, Đương quy để bổ huyết.

Thể Thận âm hư: Bài Tri bá địa hoàng hoàn (Tiểu nhi dược chứng trực quyết)

Đan bì120gHoàng bá80g
Thục địa320gTri mẫu80g
Trạch tả120g
Hoài sơn160g
Bạch linh120g

Tán bột làm hoàn. Ngày uống 12-16g

Phân tích bài thuốc: Lục vị để tư bổ Can Thận, Hoàng bá, Tri mẫu để chế hỏa.

Nếu huyễn vựng nặng chóng mặt đau đầu: Thêm Long Cốt, Mẫu lễ, Thạch quyết minh để tiềm dương.

  1. Khí huyết đều hư:

Triệu chứng:

Chóng mặt, hoa mắt, sặc mặt nhợt, miệng nhạt, hòi hộp, mất ngủ, mệt mỏi, biếng nói, chán ăn, lưỡi nhợt, mạch Tế nhược.

Phân tích: Do khí huyết thiếu, Não không được nuôi dưỡng nên gây chóng mặt, nặng thì ngã quay. Huyết hư không lưu thông được toàn thân nên sắc mặt và người nhợt nhạt. Huyết thiếu không nuôi dưỡng đủ cho tâm nên hồi hộp, giật mình, ngủ kém. Tỳ vị vận hóa, thu nạp thất thường nên kém ăn, mạch tế nhược là biểu hiện của khí huyết suy kém.

Phép chữa: Bổ dưỡng khí huyết, kiện vẫn tỳ vị.

Bài thuốc 1: Quy tỳ thang gian giảm

Hoàng kỳ12gLong nhãn12g
Đương quy12gViễn chí08g
Đẳng sâm16gTáo nhân08g
Bạch truật12gMộc hương06g
Phục thần08gĐại táo12g

Phân tích bài thuốc:

Trong bài Quy tỳ có bài “Tứ quân tử thang” (Sâm linh truật thảo) để bổ khí, kiện tỳ. Và bài “Đương quy bổ huyết thang” (Đương quy + Hoàng kỳ) để bổ khí huyết. Kết hợp Táo nhân, Long nhãn, để dưỡng tâm, an thần. Viễn chí để giao thông tâm thận và định chí ninh Tâm. Mộc hương Lý khí tỉnh tỳ. Sinh khương, đại táo điều hòa tỳ vị.

Gia giảm:

Nếu thiên về hư hàn chân tay lạnh, ỉa chảy thì gia thêm: Nhục quế, Can khương để ôn trung trợ dương

Nếu mất máu nhiều, khí theo huyết thoát, chân tay lạnh, đổ mồ hôi, mạch vi nhược, nhanh, phải hồi dương cứu thoát, dùng bài Sâm phụ Long Lệ thang gia giảm. Bệnh nhận thuyên giảm lại theo phương pháp trên điều trị tiếp

Bài thuốc 2: Thập toàn đại bổ (cục phương)

Nhân sâm8gĐịa hoàng15g
Phục linh8gBạch thược8g
Bạch truật10gXuyên khung5g
Camthảo5gĐương quy10g
Hoàng kỳ15gNhục quế8g

Phân tích bài thuốc:

Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Phục linh,Camthảo, Nhục quế để bổ tỳ, ích khí, ôn dương.

Địa hoàng, Bạch thược, Đương quy, Xuyên khung để bổ huyết dưỡng tâm, can huyết.

Châm cứu:

Huyệt chính: Ế phong, Nội quan, Phong trì, Thái xung, Thính cung

Đờm thấp gia thêm: Túc tam lý, Trung quản, Phong long

Thận suy, phong dương bốc lên gia: Thái khê, An miên

Khí huyết hư thêm: Cách du, Huyết hải.

Kích thích vừa mạnh vê kim kiên tục 10-30 phút, ngày châm 1 lần, 5-7 ngày là 1 liệu trình.

Phân tích phương huyệt:

Phong trì, Thái xung để thanh tức phong dương

Ế phong, thính cung để sơ điều kinh khí ở tai

Nội Quan để điều hòa vị, cầm nôn

Túc Tam lý, Trung quản, Phong long để kiện vận Tỳ vị, khứ đờm trọc.

Thái khê để bổ thận

An miên để an thần

Chế độ sinh hoạt:

Nên tập nằm thư giãn để tăng cường khả năng ức chế, giữ tâm tĩnh thư thái, tránh các kích thích tâm lý, căng thẳng, cáu giận, lo nghĩ …

Nên ăn uống thanh đạm, tránh đồ cay nóng, ngọt béo

Tránh phòng dục quá độ để bảo tồn tinh khí

Lời kết:

Nguyên nhân của Thiểu năng tuần hoàn não hay còn gọi chứng Huyễn Vựng là do Phong, Hỏa, Đờm và Hư. Có khi xuất hiện đơn độc, có khi xuất hiện cùng nhau. Khi gặp bệnh nên xem xét kỹ để có phương pháp điều trị.

Bệnh cấp thì thuộc thực, trước phải thanh hỏa, hóa đờm, bình can, tiềm dương, tức phong. Bệnh hoãn phần nhiều là thuộc hư, cần phải bổ dưỡng khí huyết, bổ ích Can Thận kiện Tỳ và kèm theo những vị thuốc tức phong hóa đờm. Lựa chọn phương pháp chính xác, sau khi bệnh ổn thì lại điều trị tận gốc.

 

loading...