Bệnh thường gặp

Nên sử dụng thuốc trị ho nào?

Ho là phản ứng của cơ thể nhằm giúp đẩy các dị vật “lì lợm” ra khỏ đường hô hấp; đây là cơ chế tự nhiên của cơ thể. Tuy nhiên, khi ho kéo dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, sức khỏe của bạn. Trong trường hợp này các thuốc trị ho là cần thiết để giúp cơ thể thoải mái nhẹ nhỏm

Loading...

Quất chưng đường phèn trị ho

Chuyển mùa là lúc thời tiết thay đổi nhiều: đông sang xuân (lạnh sang ấm, gió mùa đông bắc lạnh và khô sang gió nồm ấm và ẩm), xuân sang hè (ấm sang nóng), hè sang thu (nóng sang mát), thu sang đông (mát sang lạnh, chủ yếu là gió đông bắc) nên có ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, nhất là người già và trẻ nhỏ (đặc biệt là đông sang xuân) biểu hiện thường gặp là: ho, cảm, cúm, chảy nước mũi, hắt hơi, gây khó chịu trong người. Sau đây xin điểm qua một số loại thuốc trị ho thông thường.

Thuốc giảm ho dân gian: ít độc hại

Nhân dân thường dùng một số thức ăn, gia vị thường có trong vườn nhà để chữa ho như: cho người lớn hoặc trẻ trên 7 tuổi sử dụng quả chanh hoặc quả quất chín, quả khế thái lát trộn với muối hoặc chút mật ong để ngậm rồi nuốt nước. Ngậm một lát gừng tươi hoặc nghệ tươi thỉnh thoảng nhấm nhẹ, nuốt nước. Hoặc dùng thuốc ho Đông y có bán ở các nhà thuốc hợp pháp. Trẻ em dưới 2 tuổi thì dùng hoa đu đủ đực hoặc hoa hồng bạch, lá hẹ trộn với đường phèn hấp chín cho ăn.

Lưu ý: Tuyệt đối không dùng: quả quất làm cảnh, hoa hồng bạch mua ở chợ (do nhiễm lượng lớn hóa chất bảo vệ thực vật) để trị ho.

Thuốc giảm ho tác dụng thần kinh trung ương

Bao gồm các loại như: codein, pholcodin, dextromethorphan… trị ho khan (dùng thuốc không quá 7 ngày). Thuốc ít có tác dụng với ho nặng kéo dài. Không dùng các loại thuốc này cho trẻ dưới 2 tuổi, người suy hô hấp, phụ nữ có thai, các trường hợp ho có nhiều đờm.

Thuốc long đờm

Thường có các loại như terpin hydrat, natri benzoat có tác dụng làm loãng đờm (terpin hydrat thường phối hợp với codein). Eprazinone (có tên biệt dược như mucitux, molitoux) có tác dụng làm loãng dịch tiết phế quản nên long đờm (không phá hủy cấu trúc của đờm nên không ảnh hưởng đến niêm mạc dạ dày) làm dễ thở do chống co thắt phế quản. Chữa ho do viêm phế quản cấp và mạn, suy hô hấp mạn, hen phế quản hoặc ho do cúm, viêm mũi xoang.

Các loại thuốc long đờm có tác dụng phá hủy cấu trúc của đờm như ambroxol, bromhexine, N- acetylcysteine, carbocistein… dùng chữa ho do các bệnh phế quản, phổi cấp và mạn tính, hen phế quản, giãn phế quản. Viêm xoang và tai mũi họng. Không dùng cho người bệnh: viêm loét dạ dày – tá tràng. Phụ nữ có thai hoặc cho con bú.

Nên sử dụng thuốc trị họ nào?

Thuốc chống dị ứng

Thường dùng nhóm kháng histamin H1 như chlorpheniramin maleat. Cetirizin, loratadin, fexofenadin có tác dụng chống chảy nước mũi gây ho và khó chịu qua đó có tác dụng giảm ho. Trong nhóm kháng histamin H1 chỉ có chlorpheniramin maleat là được các nhà bào chế thuốc tin dùng hơn cả, vì tác dụng nhanh và mạnh hơn các loại khác (nên thường có trong các biệt dược chữa cảm cúm, chữa ho nhiều thành phần). Để giảm tác hại của nó, chỉ nên dùng liều nhỏ, đặt dưới lưỡi (1/2 hoặc 1/3 viên hàm lượng 4mg, ngày dùng 1 – 2 lần). Không dùng chlorpheniramin cho người bệnh: hen cấp, loét dạ dày, tá tràng, tắc môn vị, tắc cổ bàng quang, glocom góc hẹp, trẻ sơ sinh, người mang thai, người cho con bú.

Thuốc chống viêm dạng men

Các loại như alpha chymotrypsin, seratiopeptidase (tốt nhất nên đặt dưới lưỡi mỗi viên 6 giờ/lần) cho các trường hợp ho do viêm đường hô hấp.

Thuốc kháng sinh

Các loại kháng sinh như amoxillin, cephalosporin, cefuroxim,chỉ có tác dụng khi nguyên nhân gây ho là vi khuẩn, vi nấm ở đường hô hấp mà không có tác dụng khi nguyên nhân gây ho là virut và các nguyên nhân khác. Theo quy định thì tất cả các trường hợp sử dụng kháng sinh đều phải thử kháng sinh đồ, dùng với liều phù hợp, tránh dùng liều cao, bao vây sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh.

Corticoide

Corticoide dạng xịt mũi có tác dụng cắt cơn ho nhanh trong trường hợp ho do viêm mũi dị ứng, thường dùng fluticasone propinate: 2 ngày đầu mỗi ngày xịt 2 lần lúc 8 giờ và 20 giờ. Sau đó, mỗi ngày xịt 1 lần. Không dùng cho trẻ dưới 12 tuổi và phụ nữ có thai 3 tháng đầu.

Phòng bệnh

– Thường xuyên vệ sinh răng miệng ngay sau khi ăn hoặc uống nước ngọt, súc họng trước khi đi ngủ bằng nước muối đẳng trương (Nacl 0,9%).

– Hàng ngày cần tập luyện vận động cơ thể trong đó chủ yếu có phần tập thở 4 thì (luyện thở ít nhất là 10 phút/ngày). Cần hướng dẫn tập thở cho trẻ ngay từ 7 tuổi để các cháu luyện tập thành thói quen và mọi người kể cả người bệnh để tăng khả năng miễn dịch ở phổi và hỗ trợ cơ thể chống tác nhân gây bệnh.

– Giữ ấm cổ ngực và đôi chân khi trời lạnh dưới 20oC (nhất là người già, trẻ nhỏ).

– Tránh xa nicotin (thuốc lá, thuốc lào) và ethanol (bia, rượu các loại).

– Nâng cao sức đề kháng của cơ thể và đặc biệt ở màng phổi bằng cách bổ sung vitamin A (hoặc beta-caroten) vitamin D3, vitamin C, vitamin B2, đặc biệt là người đang điều trị ho do vi khuẩn, virut.

– Thông gió tránh ô nhiễm cho phòng ngủ đặc biệt trong những ngày có độ ẩm cao. Khi trong nhà có người nhiễm cúm cần xông khói bồ kết để diệt virut (đốt quả bồ kết khô trong bát rồi luân chuyển khắp nơi trong buồng có người bệnh).

Nên sử dụng thuốc trị ho nào hiệu quả?

Ho là cơ chế tự vệ sinh lý quan trọng để tống ra ngoài các dị vật ở phần trên của đường hô hấp có thể gây tắc đường thở. Ho cũng có thể là triệu chứng của một số rối loạn trong cơ thể

Ho là cơ chế tự vệ sinh lý quan trọng để tống ra ngoài các dị vật ở phần trên của đường hô hấp có thể gây tắc đường thở. Ho cũng có thể là triệu chứng của một số rối loạn trong cơ thể (hen, trào ngược dạ dày- thực quản ), mà khi điều trị những bệnh này sẽ giảm ho,

nhưng nhiều khi cũng cần điều trị triệu chứng .

Chỉ dùng thuốc giảm ho trong trường hợp ho không có đờm (ho khi cảm cúm, ho do kích ứng, dị ứng), ho nhiều  làm người bệnh mệt mỏi, mất ngủ.

Không dùng thuốc làm giảm ho trong trường hợp ho có đờm (trong bệnh viêm phế quản mạn, giãn phế quản ) vì ho được coi như cơ chế bảo vệ có lợi, làm sạch đường thở.

Các thuốc giảm ho được chia làm 2 loại:

Thuốc giảm ho ngoại biên

Làm giảm nhạy cảm của các receptor gây phản xạ ho ở đường hô hấp

– Thuốc làm dịu ho do có tác dụng bảo vệ, bao phủ các receptor cảm gi ác ở họng, hầu: glycerol, mật ong, các siro đường mía

– Thuốc gây tê các ngọn dây thần kinh gây phản xạ ho: benzonatat, bạc hà (menthol), lidocain, bupivacain.

Thuốc giảm ho trung ương

Các thuốc này ức chế trực tiếp, làm nâng cao ngưỡng kích thích củ a trung tâm ho ở hành tuỷ, đồng thời có tác dụng an thần, ức chế nhẹ trung tâm hô hấp.

Alcaloid của thuốc phiện và các dẫn xuất

Codein

Codein (methylmorphin) là alcaloid của thuốc phiện. Trong cơ thể, khoảng 10% codein bị khử methyl thành morphin.

So với morphin, codein được hấp thu tốt hơn khi uống, ít gây táo bón hoặc co thắt đường mật, ít gây ức chế hô hấp và ít gây nghiện hơn nhưng tác dụng giảm đau cũng kém hơn.

Codein có tác dụng giảm ho do ức chế trực tiếp trung tâm ho, nhưng làm khô và tăng độ quánh của dịch tiết phế quản. Dùng codein trong trường hợp ho khan gây khó chịu, mất ngủ và trong các chứng đau nhẹ và vừa.

Chống chỉ định: mẫn cảm với thuốc, trẻ em dưới 1 tuổi, bệnh gan, suy hô hấp, phụ nữ có thai.

Liều dùng điều trị ho khan: uống mỗi lần 10- 20 mg,  ngày 3 – 4 lần.

Pholcodin

Tác dụng giảm ho mạnh hơn codein 1,6 lần, ít gây tác dụng không mong muốn hơn. Liều dùng: 5- 15 mg/ ngày

Thuốc giảm ho không gây nghiện

* Dextromethorphan:

Là chất tổng hợp, đồng phân D của morphin nhưng không tác dụng lên các receptor của morphin nên không gây nghiện, không có tác dụng giảm đau và rất ít tác dụng an thần. Do ức chế trung tâm ho, dextromethorphan có tác dụng chống ho tương tự codein, nhưng ít gây tác dụng phụ hơn.

Dextromethorphan chỉ định tốt trong trường hợp ho khan, mạn tính.

Chống chỉ định: quá mẫn với thuốc, trẻ em dưới 2 tuổi, đang điều trị bằng thuốc ức chế monoaminoxydase (MAO).

Thận trọng: người có nguy cơ hoặc đang suy giảm hô hấp, tiền sử bị hen, dị ứng.

Liều dùng: uống mỗi lần 10- 20 mg, 4 giờ/ lần hoặc mỗi lần 30 mg, 6 – 8 giờ/ lần, tối đa 120 mg/ ngày.

* Noscapin:

Tác dụng, cách dùng, tác dụng không mong muốn và thận trọng tương tự như dextromethorphan.

Không dùng cho phụ nữ có khả năng mang thai (vì nguy cơ gây đột biến) Liều dùng: mỗi lần 15- 30 mg, ngày 3 lần.

Thuốc giảm ho kháng histamin

Một số thuốc có tác dụng kháng histamin H 1 trung ương và ngoại biên (kháng H1 thế hệ 1) đồng thời có tác dụng chống ho, kháng cholinergic, kháng serotonin và an thần.

Chỉ định: các chứng ho khan do dị ứng, do kích thích, nhất là về ban đêm.

Tác dụng an thần của thuốc là điều bất lợi khi dùng thuốc ban ngày, nhưng có thể thuận lợi khi ho ban đêm.

Các thuốc:

Alimemazin:    người lớn uống 5- 40mg/ ngày, chia nhiều lần

Trẻ em: 0,5- 1 mg/ kg/ ngày, chia nhiều lần.

Diphenhydramin: mỗi lần uống 25 mg, 4 – 6 giờ/ lần.

Cẩn thận với thuốc trị ho có chứa Dextromethophan

Ho là triệu chứng thường gặp, nhất là khi thời tiết giao mùa, sức đề kháng cơ thể giảm nên người bệnh dễ bị cảm cúm, cảm lạnh… và bị ho. Dextromethophan là thuốc giảm ho được dùng trong các trường hợp điều trị triệu chứng ho do họng và phế quản bị kích thích khi cảm lạnh thông thường hoặc khi hít phải chất kích thích. Ho không có đờm, mạn tính.

Không dùng thuốc cho các trường hợp quá mẫn với thuốc và các thành phần khác của thuốc. Người bệnh đang điều trị các thuốc ức chế monoaminoxydase (MAO) vì có thể gây những phản ứng nặng như sốt cao, chóng mặt, tăng huyết áp, chảy máu não, thậm chí tử vong. Trẻ em dưới 2 tuổi. Đối với người bị bệnh ho có quá nhiều đờm và ho mạn tính ở người hút thuốc, hen hoặc tràn khí; Người bệnh có nguy cơ hoặc đang bị suy giảm hô hấp cần dùng thuốc này một cách thận trọng.

Cần lưu ý, người bệnh khi dùng thuốc giảm ho này thường gặp tác dụng phụ của thuốc làm cho mệt mỏi, chóng mặt, nhịp tim nhanh, buồn nôn, đỏ bừng, nổi mày đay (ít gặp hơn); Thỉnh thoảng thấy buồn ngủ nhẹ, rối loạn tiêu hóa, hành vi kỳ quặc do ngộ độc, ức chế hệ thần kinh trung ương và suy hô hấp có thể xảy ra khi dùng liều cao. Do thuốc có tác dụng gây buồn ngủ nên người bệnh khi uống thuốc cần nghỉ ngơi. Không dùng thuốc đồng thời với các thuốc ức chế thần kinh trung ương và rượu.

DS. Thu Thủy

Theo Báo Sức Khỏe & Đời sống

loading...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Open