Sức khỏe trẻ em

Những dấu hiệu nhận biết và cách hạn chế tình trạng trẻ bị suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng do thiếu protein – năng lượng (thường gọi là suy dinh dưỡng) là tình trạng thiếu dinh dưỡng quan trọng và phổ biến ở trẻ em nước ta. Biểu hiện của suy dinh dưỡng là trẻ chậm lớn và thường hay mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy và viêm đường hô hấp, trẻ bị giảm khả năng học tập, năng suất lao động kém khi trưởng thành.

Loading...

Theo thống kê, năm 2013 ở nước ta có 2,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, chủ yếu là suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa. Tuy vậy, các thể suy dinh dưỡng này cũng có ý nghĩa quan trọng vì đứa trẻ dễ mắc bệnh, tăng nguy cơ tử vong và thường kèm theo thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng. Đáng chú ý là trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa ít được người mẹ, các thành viên khác trong gia đình chú ý tới vì trẻ vẫn bình thường. Ở một cộng đồng (xóm, làng, xã) có nhiều trẻ suy dinh dưỡng, ta càng khó nhận biết được vì chúng đều “nhỏ bé” như nhau. Do đó, suy dinh dưỡng trẻ em cần được sự quan tâm của mọi ngựời.

Làm thế nào để nhận biết trẻ bị suy dinh dưỡng?

Con bạn có thể đã bị suy dinh dưỡng nếu chậm tăng cân, đứng cân hoặc sụt cân. Trẻ suy dinh dưỡng thường biếng ăn, ăn ít, môi xanh, niêm mạc mắt nhợt nhạt. Các dấu hiệu thường gặp khác ở trẻ suy dinh dưỡng là:

Buồn bực, hay quấy khóc, ít vui chơi, kém linh hoạt. Các bắp thịt tay chân mềm nhão, bụng to dần.

Trẻ chậm phát triển vận động: Chậm biết lẫy, ngồi, bò, đi đứng.

Để xác định trẻ có suy dinh dưỡng hay không, ngoài việc quan sát các dấu hiệu trên, cha mẹ còn có thễ dựa vào các chỉ số chuẩn để so sánh với con mình:

– Cách thứ nhất là dựa vào cân nặng theo tuổi. Khi trẻ mới sinh nặng cỡ 3kg, sau 5 tháng tăng gâp đôi, 12 tháng tăng gấp ba; sau đó mỗi năm tăng thêm 2kg. Khi trẻ 6 tuổi thì cân nặng phải là 20kg. Nếu ở vùng xa không có cân, có thể đo vòng cánh tay trẻ 1 – 5 tuổi. Trẻ bình thường 14 – 15cm; nếu dưới 13cm là suy dinh dưỡng.

– Cách thứ hai là dựa vào chiều cao theo tuổi. Khi mới sinh trẻ dài 50cm, 6 tháng dài 65cm, 12 tháng: 75cm, 2 tuổi: 85cm, 3 tuổi: 95cm, 4 tuổi: 100cm. Sau đó, mỗi năm chiều cao tăng thêm 5cm, khi trẻ 8 tuổi phải cao 120cm.

Tại sao trẻ bị suy dinh dưỡng?

Thiếu ăn, bữa ăn thiếu số lượng, thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết để phát triển: trẻ dưới 5 tuổi có nhu cầu dinh dưỡng cao để phát triển cơ thể. Để đáp ứng nhu cầu đó, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ theo lứa tuổi. Trẻ dưới 4 tháng tuổi cần được bú mẹ hoàn toàn. Sữa mẹ là thức ăn lý tưởng của trẻ nhỏ. Từ tháng thứ 5 trẻ bắt đầu ăn thêm ngoài sữa mẹ. Từ tháng tuổi này, thực hành nuôi dưỡng trẻ có ý nghĩa quan trọng đối với suy dinh dưỡng. Nhiều bà mẹ chỉ cho trẻ ăn bột muối, thức ăn sam (dặm) thiếu dầu mỡ, thức ăn động vật, rau xanh, hoa quả. Đây là những tập quán nuôi dưỡng chưa hợp lý cần được khắc phục. Mặt khác, để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, trẻ cần được ăn nhiều bữa trong ngày vì trẻ nhỏ không thể ăn một lần vớỉ khối lượng lớn như trẻ lớn hoặc người lớn. Điều này có liên quan đến vấn đề chăm sóc trẻ.

Người mẹ bị suy dinh dưỡng Người mẹ trước và trong khi mang thai ăn uống không đầy đủ dẫn đến bị suy dinh dưỡng và có thể đẻ ra đưa con nhẹ cân, còi cọc. Đứa trẻ bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai sẽ dễ bị suy dinh dưỡng sau này. Người mẹ bị suy dinh dưỡng, ăn uống kém trong những tháng đầu sau đẻ dễ bị thiếu sữa hoặc mất sữa, do đó đứa con dễ bị suy dinh dưỡng.

Các bệnh nhiễm khuẩn như viêm đường hô hấp, tiêu chảy, các bệnh ký sinh trùng: Đây là tình hạng hay gặp ở nước ta. Chế độ nuôi dưỡng không hợp lý khi trẻ bệnh là một nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng sau mắc bệnh ở trẻ dưới 5 tuổi.

Thiếu chăm sóc hay đứa trẻ bị “bỏ rơi”: Ngoài chăm sóc về ăn uống, đứa trẻ cần chăm sóc về sức khoẻ (tiêm chủng, phòng chống nhiễm khuẩn), chăm sóc về tâm lý, tình cảm và chăm sóc về vê sinh. Môi trường sống ở gia đình bị ô nhiễm, sử dụng nguồn nước không sạch để nấu ăn, tắm giặt cho trẻ, sử lý nước thải, phân, rác không đảm bảo là những yếu tố dẫn đến suy dinh dưỡng.

Những trẻ nào dễ bị suy dinh dưỡng?

– Trẻ từ 6- 24 tháng: Thời kỳ có nhu cầu dinh dưỡng cao, thời kỳ thích ứng với môi trường, thời kỳ nhạy cảm với bệnh tật.

– Trẻ không được bú sữa mẹ hoặc không đủ sữa.

– Trẻ đẻ nhẹ cân (<2500g), trẻ đẻ sinh đôi, sinh ba.- Trẻ ở gia đình đông con, điều kiện vệ sinh kém, gia đình không hoà thuận.- Trẻ hiện đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn như: Bệnh sởi, tiêu chảy hay viêm đường hô hâp...

Cần làm gì đề phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại mỗi gia đình?

Muốn phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, cần có sự hiểu biết, chủ động và thay đổi thực hành của mỗi gia đình. Do đó, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng lấy gia đình là đối tượng thực hiện công tác chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em. Mọi gia đình đều hưởng ứng và thực hiện 8 nội dung cụ thể sau đây:

Chăm sóc ăn uống của phụ nữ có thai để mức tăng cân 10-12 kg, trong thời gian có thai phải khám thai ít nhất 3 lần, tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván.

Cho trẻ bú sớm trong nửa giờ đầu sau khi sinh, bú hoàn toàn sữa mẹ trong 4 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 18 – 24 tháng.

Cho trẻ ăn bổ sung (án sam, ăn dặm) từ 1 tháng thứ 5. Tăng cường thêm chất béo (dầu, mỡ, lạc, vừng). Ăn nhiều bữa.

Thực hiện phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng: Phụ nữ có thai uống viên sắt acid olic hàng ngày. Trẻ em 6-36 tháng uống vitamin A liều cao 2 lần một năm. Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn (tiêu chảy, viêm đường hô hấp). Thực hiện tiêm phòng đầy đủ. Chăm sóc và nuôi dưỡng hợp lý trẻ bị bệnh.

– Phấn đấu bữa ăn nào cũng có đủ 4 món cân đối. Ngoài cơm (cung cấp năng lượng), cần có đủ 3 món nữa là: rau quả (cung cấp vitamin, chất khoáng và chất xơ); đậu phụ, vừng lạc, cá, thịt, trứng (cung cấp chất đạm, béo) và canh cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung giúp ăn ngon miệng.

– Thực hiện gia đình hạnh phúc, có nếp sống văn hoá, năng động, lành manh. Có biểu đồ tăng trưởng để theo dõi sức khoẻ của trẻ.

loading...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *