Bệnh thường gặp

Tự cứu và cứu người khác khi bị bỏng – Cách xử lý bỏng bô, bỏng dầu mỡ, bỏng nước sôi

Bị bỏng rất hay gặp trong sinh hoạt hàng ngày như bỏng do đám cháy, bỏng do nước sôi, bỏng bô xe, bỏng do điện..Chúng ta đã co các cách xử trí khi gặp trường hợp bị các loại bỏng này chưa? Cùng tham khảo bài viết sau đây các bạn nhé!

Loading...

 Tự cứu và cứu người khác khi bị bỏng

Bỏng là một chấn thương đòi hỏi phải điều trị dài ngày, nhiều mặt; chi phí điều trị bỏng tốn hơn nhiều lần so với các chấn thương khác. Bệnh bỏng gây ra các rối loạn nội tạng kéo dài, di chứng bỏng ảnh hưởng nặng đến khả năng vận động, thẩm mỹ và tâm lý người bị bỏng. Do đó công tác tự cứu và sơ cứu cho người bị bỏng, công tác cứu chữa ban đầu tại tuyến y tế cơ sở được tiến hành đúng và kịp thời sẽ góp phần dự phòng các biến chứng của bệnh bỏng phát sinh.

Khi bị bỏng điều đầu tiên phải rất bình tĩnh tìm cách dập ngay lửa, cởi ngay quần áo bị cháy hoặc bị nước sôi ngấm vào. Nếu ở vùng có đám cháy phải tìm cách vượt nhanh khỏi nơi cháy.

 Tự cứu và cứu người khác khi bị bỏng - Cách xử lý bỏng bô, bỏng dầu mỡ, bỏng nước sôi

Nếu bị bỏng do điện: phải tìm mọi cách để cắt luồng điện và cứu người ra khỏi luồng điện bằng cách ngắt ngay cầu dao, tháo bỏ cầu chì. Khi cứu người bị điện giật, người cứu phải dùng que gỗ khô gỡ dây điện đang tiếp xúc với người bị và tìm cách kéo người bị nạn ra ngoài vùng nguy hiểm (kéo tóc, kéo quần áo). Sau đó phải làm hô hấp nhân tạo, bóp tim ngoài lồng ngực, thổi ngạt ngay tại chỗ. Tránh mất thời gian mang người bị nạn đi mà không cấp cứu tại chỗ. Nếu có điều kiện tiêm thuốc trợ tim, thuốc kích thích hô hấp. Khi tự thở và tim đập trở lại lúc đó mới nghĩ đến việc băng vết bỏng, giảm đau và chuyển người bị nạn đến cơ sở y tế gần nhất.

Nếu bị bỏng trong các đám cháy lớn

có nhiều sản phẩm của chất cháy dưới dạng các khí khói nóng, nhiều khí oxid carbon, phải tìm cách đưa người bị nạn ra ngay chỗ thoáng khí, theo dõi tình trạng thở của nạn nhân, hút sạch đờm tiết, đảm bảo lưu thông khí.

Đối với tổn thương bỏng phải tự xử trí bằng cách ngâm nước lạnh: nếu gần một nguồn nước lạnh thì tốt nhất là ngâm toàn bộ phần bị bỏng xuống dưới nước lạnh để vừa dập lửa, vừa làm cho nhiệt độ dưới da bỏng hạ thấp, giảm đau, giảm phản ứng viêm nề thoát dịch huyết tương. Đó cũng là cách để giảm đau, dự phòng sốc và làm cho tổn thương bỏng không nặng thêm. Các nghiên cứu cho thấy: ngay sau bị bỏng nếu áp lạnh, ngâm lạnh trong nước ở nhiệt độ 22 – 23oC hoặc 10 – 14oC vào vùng bị bỏng trong 5 phút tới 2 giờ liền sẽ thấy kết quả làm giảm độ bỏng sâu, giảm đau, ức chế tính thấm mao mạch, nề bớt hẳn. Nhưng việc này phải làm trong 30 phút đầu tiên (tốt nhất là trong 10 phút đầu tiên) mới có kết quả. Nếu để sau 45 phút sẽ không có tác dụng.

Sau khi đã ngâm lạnh cần phải băng ép chặt vừa mức vùng bị bỏng. Băng ép làm hạn chế sự phát triển của nốt phỏng và một phần sự phù nề của chi bị bỏng. Nếu để cho nốt phỏng tự phát triển không được băng ép chặt lại bỏng độ II sẽ thoát dịch thành nốt phỏng 25-50ml; nếu được băng ép chặt, dịch ở nốt phỏng có rất ít, chỉ khoảng 3-10ml (ít hơn nhiều lần). Do đó việc băng ép chặt vừa mức vùng bỏng phải tiến hành sớm, chặt vừa đều trên chi bỏng mới có tác dụng. Không cần băng: vùng mặt, vùng tầng sinh môn, bỏng hoại tử khô, bỏng độ I.

Khi bị bỏng do axít: Nếu axít dính trên quần áo và giày dép, cần nhanh chóng cởi bỏ quần áo, giày dép. Dùng nước lạnh dội lên vùng bỏng hoặc ngâm vùng bỏng vào nước để hòa loãng nồng độ axít với thời gian trên 10 -15 phút. Nếu bị bỏng do acid hydrofluohydric thì ngâm rửa nước lạnh phải dài thời gian hơn sau đó dùng thuốc để trung hòa cụ thể:

– Do acid hydrofluoric: dùng bột sunfat magnhe rắc vào vết bỏng và tiêm canxi gluconat vào dưới vết bỏng.

Do acid carbonic: dùng dầu thảo mộc, glyxerin, rượu cồn.

– Do acid phenic, phenol: dùng dầu thảo mộc tấm gạc băng lại.

Nếu uống phải axít thì súc miệng bằng natribicacbonat dung dịch 5%. Sau đó uống nước lòng trắng trứng gà, số lượng này tùy theo lượng axít uống vào nhiều hay ít. Không nên uống natribicacbonat dung dịch 5% vì có thể gây chướng do khí hình thành làm giãn dạ dày cấp và thủng dạ dày hoặc ống tiêu hóa.

Khi bị bỏng do bazơ (chất kiềm) phải rửa hoặc ngâm vào nước sạch để hòa loãng nồng độ bazơ. Sau khi đã dùng nước nhiều để rửa, sử dụng các dung dịch axít như acid acetic 6%, amoniclorua (NH4Cl) dung dịch 5%, acid boric dung dịch 3%. Nếu không có dung dịch trên dùng nước dấm, nước chanh, nước đường 20%.

Bỏng do vôi tôi: rửa, dùng acid boric 3% rồi dùng amoniclorua 10% rửa sạch các vết vôi còn sót lại. Sau đó băng bằng acid boric 3%.

Khi bị bỏng mắt do hóa chất: phải rửa ngay mắt bằng nước sạch, rửa nhiều nước, sau đó nên dùng nước muối sinh lý đẳng trương để rửa và tốt nhất là dùng loại dung dịch đệm natri photphat có pH 7,2 là dung dịch trung hòa đối với cả axít và cả bazơ bằng cách phân ly và hóa hợp tạo ra phản ứng đệm. pH của dung dịch đệm này gần với pH của nước mắt người (7,4) và có áp suất thẩm thấu tương đương với áp suất thẩm thấu nước mắt người (295 mosmol).

Xử lý bỏng bô, bỏng dầu mỡ, bỏng nước sôi

Hiểu biết về cấp độ và cách xử lý vết bỏng thường gặp như bỏng bô, dầu mỡ hay nước sôi là rất cần thiết để giảm thiểu tối đa hậu quả có thể gây ra.

 Tự cứu và cứu người khác khi bị bỏng - Cách xử lý bỏng bô, bỏng dầu mỡ, bỏng nước sôi

Tuy nhiên, hầu hết mọi người vẫn chủ quan, tự xử lý vết bỏng của mình theo kinh nghiệm. Khi xử lý không đúng cách, vùng da bị tổn thương cần phải mất nhiều thời gian hồi phục, dễ để lại sẹo và đôi khi vấn đề tổn thương da trở nên nghiêm trọng hơn, phải nhập viện.

Các cấp độ bỏng

Bỏng là một dạng tổn thương trên da, đôi khi là dưới mô gây bởi nhiệt, điện, bức xạ, chất hóa học, ánh sáng hay va chạm (phần lớn gây ra bởi nhiệt như các trường hợp: bỏng bô, bỏng dầu mỡ, bỏng nước sôi…). Bạn cần hiểu biết rõ về bỏng và vấn đề bạn phải gặp phải là gì thì bạn mới có thể xử lý vết bỏng đúng cách.

 Tự cứu và cứu người khác khi bị bỏng - Cách xử lý bỏng bô, bỏng dầu mỡ, bỏng nước sôi

Các cấp độ bỏng.

Bỏng độ 1 (Bỏng bề mặt): đây là cấp độ nhẹ nhất, khi bị bỏng thường có dấu hiệu da bỏng rát, đỏ giống như bị cháy nắng sau một vài ngày vết thương sẽ lành, không để lại sẹo.

Bỏng độ 2 (Bỏng một phần da): ở cấp độ này, lớp biểu bì và một phần lớp chân bì bị tổn thương, các túi nước phỏng được hình thành. Nếu túi nước này bị vỡ, nó sẽ gây ra đau rát cho vùng da bị tổn thương.

Bỏng độ 3: đây là mức nghiêm trọng, toàn bộ lớp da dưới biểu bì đều bị tổn thương. Ở mức độ bỏng này cần đưa ngay nạn nhân tới bệnh viện để các bác sĩ kịp thời cấp cứu, tránh những tổn thương nghiêm trọng hơn.

Khi bị bỏng, tùy vào cấp độ bỏng khác nhau ta cần phải có cách xử lý khác nhau. Bạn xử lý đúng cách sẽ làm cho vết bỏng có thời gian phục hồi nhanh hơn và không để lại sẹo.

Cách xử lý đối với vết bỏng cấp độ 1 và 2:

 Tự cứu và cứu người khác khi bị bỏng - Cách xử lý bỏng bô, bỏng dầu mỡ, bỏng nước sôi

Bước 1: loại bỏ tác nhân gây bỏng càng sớm càng tốt, góp phần giảm diện tích và độ sâu tổn thương do bỏng (cởi bỏ quần áo vùng bị bỏng do quần áo vùng bị bỏng có tác dụng giữ nhiệt).

Bước 2: làm mát vùng bỏng, ngâm rửa hoặc tưới rửa vùng bỏng vào nước mát, sạch, nước có nhiệt độ 16 độ C đến 20 độ C trong 20 phút.

Bước 3: sử dụng các loại mỡ, kem điều trị bỏng, sử dụng băng vết thương dạng xịt-Nacurgo tạo màng sinh học siêu thoáng lên bề mặt vết bỏng 2 lần mỗi ngày (không cần phải băng kín vết bỏng) ngay khi bị bỏng (đối với bỏng cấp độ 1) và khi bọc nước đã vỡ (đối với bỏng cấp độ 2). Duy trì sử dụng Nacurgo để bảo vệ vùng da non mới hình thành, tránh tiếp xúc với nước và không khí, ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn, vết bỏng mau lành và đặc biệt hạn chế để lại sẹo do trong thành phần có tinh nghệ siêu phân tử (nano curcumin).

Cách xử lý đối với vết bỏng ở cấp độ 3: Bệnh nhân cần phải tới gặp bác sĩ ngay lập tức.

Lời khuyên:

Như vậy, xử lý kịp thời có thể giúp kiểm soát mức độ nghiêm trọng của vết bỏng. Trong trường hợp bỏng do chất hóa học, cần rửa vùng da bị bỏng bằng thật nhiều nước sạch; không nên tin vào các phương thuốc không chính thống, gia truyền hay dân gian để xử lý vết bỏng. Nếu bạn đắp bất cứ loại thuốc lạ nào lên vết bỏng, đều có nguy cơ bị nhiễm trùng và để lại hậu quả nghiêm trọng.

loading...